Tin Tổng Hợp Liên Quan đến Biển Đông và Trung cộng (ngày 30.06.2017)

Tin Tổng Hợp Liên Quan đến Biển Đông và Trung cộng 
(ngày 30.06.2017)

Biển Đông : Trung cộng gần hoàn tất ba tiền đồn quân sự tại Trường Sa
Hạ tầng cơ sở quân sự của Trung cộng trên đá Chữ Thập. Ảnh vệ tinh 16/06/2017. Reuters/CSIS/AMTI DigitalGlobe

Trung cộng gần hoàn tất việc xây dựng các hạ tầng cơ sở quân sự trên ba đảo nhân tạo tại Trường Sa, sẵn sàng cho việc triển khai tên lửa. Trên đây là thông tin do Sáng Kiến Minh Bạch Hàng Hải Á Châu (AMTI), có trụ sở tại Washington, cung cấp hôm qua, 29/06/2017.


Theo AMTI, Trung cộng đã xây tổng cộng 12 điểm đặt bệ phóng tên lửa với mái che, tại đá Chữ Thập (Fiery Cross), tức nhiều hơn bốn điểm so với hồi tháng 2/2017. Trên đá Chữ Thập và hai đảo nhân tạo khác, đá Subi, đá Vành Khăn (Mischief), Trung cộng cũng mới mở rộng hệ thống ra-đa và mạng lưới thông tin liên lạc.

Trên mỗi đảo nhân tạo nói trên, Trung cộng đã cho xây dựng thêm bốn công trình ngầm trong lòng đất “quy mô rất lớn” đã được xây dựng thêm để sẵn sàng tiếp nhận đạn dược, các thiết bị quân sự và nhu yếu phẩm.

AMTI theo dõi sát việc bồi đắp và xây dựng của Trung cộng tại Biển Đông từ gần hai năm nay. Theo Sáng Kiến Minh Bạch Hàng Hải Á Châu, với các cơ sở hàng hải, hàng không, ra-đa, hệ thống phòng ngự hiện có, Bắc Kinh hoàn toàn có đủ khả năng triển khai các phương tiện chiến tranh tại quần đảo Trường Sa bất cứ lúc nào, kể cả các phi cơ chiến đấu và bệ phóng tên lửa di động.

AMTI nhấn mạnh, với bốn tiền đồn bao gồm nhóm ba đảo ở Trường Sa thường được gọi là “Big 3” và đảo Phú Lâm (Woody Island) ở Hoàng Sa, các máy bay quân sự của Trung cộng có thể tác chiến trên gần như toàn bộ Biển Đông. Chỉ riêng tại nhóm đảo Big 3, Bắc Kinh có thể triển khai tổng cộng 72 phi cơ chiến đấu.

Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền trên gần như toàn bộ Biển Đông, với đường 9 đoạn, còn gọi là đường lưỡi bò, bất chấp sự phản đối của các quốc gia láng giềng. Tháng 7/2016, một tòa án quốc tế đã ra phán quyết bác bỏ yêu sách này. Cộng đồng quốc tế lo ngại đà quân sự hóa của Trung cộng tại Biển Đông, đe dọa hòa bình và an toàn hàng hải, hàng không khu vực. Hoa Kỳ thường xuyên phản đối nỗ lực quân sự hóa của Trung cộng.

RFI 


VN - Nga tăng cường quan hệ và ủng hộ luật quốc tế tại Biển Đông
Chủ tịch nhà nước Việt Nam Trần Đại Quang trong cuộ gặp với Tổng thống Nga Vladimir Putin (thứ 2), cùng với Ngoại trưởng Sergei Lavrov, tại điện Kremlin ở Moscow vào ngày 29 tháng 6 năm 2017. Beschreibung: http://www.rfa.org/rfa_resources/graphics/icon-zoom.png AFP

Lãnh đạo Việt Nam và Nga hôm 29 tháng 6 ra tuyên bố chung cam kết tăng cường hợp tác nhiều mặt giữa hai nước bao gồm cả vấn đề an ninh quốc phòng, khẳng định việc thực hiện đầy đủ Công ước luật biển của Liên Hợp quốc 1982 (UNCLOS), Tuyên bố về ứng xử của các bên tại biển Đông (COC).

Tuyên bố được đưa ra nhân chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đại Quang đến Nga từ ngày 28/06 - 01/07/2017.

Điểm 13 của bản tuyên bố chung gồm 17 điều viết rằng hai bên cho rằng các tranh chấp biên giới, lãnh thổ và các tranh chấp khác tại khu vực châu Á Thái Bình Dương cần được các bên liên quan giải quyết bằng biện pháp hòa bình, không sử dụng vũ lực hay đe dọa sử dụng vũ lực, trên cơ sở luật pháp quốc tế.

Phía Việt Nam cam kết tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp Nga trong lĩnh vực dầu khí. Ba tập đoàn dầu khí Nga được nói đến trong tuyên bố bao gồm tập đoàn Gazprom, công ty Zarubezhneft, tập đoàn Rosneft. Hai bên cam kết tăng cường hợp tác và mở rộng khu vực thăm dò và khai thác dầu khí tại thềm lục địa Việt Nam phù hợp với Công ước Liên hợp quốc về luật biển 1982.

Tuyên bố chung cũng khẳng định nỗ lực xây dựng trật tự quan hệ quốc tế công bằng, dựa trên nguyên tắc đa phương trong giải quyết các vấn đề cấp thiết, đề cao tính tối thượng của luật pháp, trong đó có Hiến chương Liên Hợp Quốc, bao gồm tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích hợp pháp của các quốc gia.

Hai bên cho rằng an ninh quốc tế là toàn diện và không thể chia tách, không được đảm bảo an ninh của quốc gia này bằng cách gây phương hại đến an ninh của quốc gia khác, trong đó có việc mở rộng các liên minh quân sự - chính trị khu vực và toàn cầu.

Ngoài ra Nga cũng hứa sẽ tiếp tục hỗ trợ cho Việt Nam về kỹ thuật quân sự, giúp Việt Nam xây dựng trung tâm khoa học và công nghệ hạt nhân tại Việt Nam.


RFA

Hoa Kỳ, Ấn Độ kêu gọi tự do hàng hải trên biển Đông
Tổng thống Donald Trump (phải) bắt tay thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi trong buổi gặp mặt tại phòng Bầu dục ở Tòa Bạch Ốc hôm 27/6. Hai nhà lãnh đạo đã ra tuyên bố chung kêu gọi cho tự do hàng hải trên vùng biển Đông đang có tranh chấp.

Hoa Kỳ và Ấn Độ hôm 27/6 kêu gọi tự do hàng hải và giải quyết tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải trên biển Đông một cách hòa bình theo luật pháp quốc tế.

Trao đổi với các nhà báo tại Vườn Hồng, Toà Bạch Ốc sau cuộc gặp với Tổng thống Mỹ Donald Trump, Thủ tướng Ấn Độ nói:

“Trong khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương, để duy trì hòa bình, ổn định và thịnh vượng khu vực, đây cũng là một mục tiêu khác trong quan hệ hợp tác chiến lược của hai nước chúng tôi.”

Một thông cáo chung về cuộc gặp thượng đỉnh sau đó nói rằng trong tư cách là những người tự coi có trách nhiệm đối với tình hình Ấn Độ -Thái Bình Dương, Tổng thống Trump và Thủ tướng Modi đồng ý rằng một mối quan hệ đối tác mật thiết giữa Hoa Kỳ và Ấn Độ là điều thiết yếu cho hòa bình và tình trạng ổn định trong khu vực.

Bản thông cáo chung viết: “Thừa nhận sự tiến bộ đáng kể đã đạt được trong các nỗ lực này, hai nhà lãnh động nhất trí sẽ đề ra các biện pháp khác nữa để tăng cường quan hệ đối tác.”

Tuyên bố chung Mỹ-Ấn còn nói rằng 2 nhà lãnh đạo Mỹ-Ấn cam kết tôn trọng một số quy tắc chung cho khu vực, theo đó cần tôn trọng quyền chủ quyền và luật quốc tế và quyền của mọi quốc gia được trở nên thịnh vượng, theo tinh thần các nguyên tắc căn bản của Hiến chương Liên Hiệp Quốc.
Tổng thống Trump và Thủ tướng Modi tái khẳng định tầm quan trọng của việc phải tôn trọng tự do hàng hải, tự do hàng không và thương mại trên toàn khu vực.

Tuyên bố chung được đưa ra giữa lúc Bắc Kinh trở thành tâm điểm của các cuộc tranh cãi gay gắt về chủ quyền ở cả biển Đông lẫn biển Hoa Đông. Bắc Kinh đã xây dựng và quân sự hóa nhiều đảo, bãi đá do họ kiểm soát trong khu vực.

VOA

Hoa Kỳ gọi đảo nhân tạo của Trung cộng là "giả"
Đảo nhân tạo do Trung cộng xây dựng ở Biển Đông AFP

Đô đốc Harry Harris, tư lệnh Bộ Chỉ Huy Thái Bình Dương của Hoa Kỳ, vào ngày 28 tháng 6 lại lên tiếng chỉ trích những đảo nhân tạo do Trung cộng bồi đắp lên tại khu vực Biển Đông trong thời gian vừa qua, rồi bố trí các căn cứ quân sự trên đó.

Trong bài diễn văn tại Trung Tâm Chính sách Chiến lược Australia ở Brisbane, đô đốc Harry Harris, cho rằng những đảo nhân tạo mà Trung cộng cho bồi đắp ra như thế là những ‘đảo giả’. Ông này nhắc đến thực tế người ta đang dùng từ ‘tin giả’ để nhắc nhở mọi người cần cảnh giác với những ‘đảo giả’ tại khu vực Biển Đông mà Bắc Kinh dựng lên. Theo ông này thì những con người thực không nên tin vào những đảo giả.

Đô đốc Harry Harris nói rõ Trung cộng đang sử dụng sức mạnh kinh tế và quân sự làm xói mòn trật tự quốc tế đặt trên căn bản luật pháp. Ông này tố cáo Bắc Kinh tiến hành xây dựng sức mạnh chiến đấu và lợi thế vị trí khi cố khẳng định chủ quyền trên thực địa tại khu vực Biển Đông.

Tư lệnh Bộ Chỉ huy Thái Bình Dương Hoa Kỳ nói thêm là Washington sẽ không để những lĩnh vực mà hai phía cùng chia sẻ bị đơn phương khép lại. Những lĩnh vực mà hai phía còn bất đồng không thể bị tác động bởi những tiến triển từ những lĩnh vực khác. Đô đốc Harry Harris nói rằng trong lĩnh vực nào hai phía có thể hợp tác thì hợp tác, nhưng vẫn phải sẵn sàng đối đầu trong lĩnh vực nào phải cứng rắn.

Mỹ cương quyết chống lại biện pháp sử dụng cưỡng ép và hăm dọa để thực hiện các tuyên bố chủ quyền.

Trung cộng đơn phương tuyên bố chủ quyền tại khu vực Biển Đông trong đường đứt khúc 9 đoạn mà Bắc Kinh vạch ra bao trọn gần 90% vùng biển này. Đường 9 đoạn này bị Tòa Trọng tài Thường trực PCA vào tháng 7 năm 2017 tuyên không có giá trị cả về mặt pháp lý cũng như lịch sử.

Ngoài Trung cộng, còn các nước Phi Luật Tân, Mã Lai, Brunei, Việt Nam và Đài Loan có tuyên bố chủ quyền chồng lấn tại khu vực Biển Đông.

RFA



Trung cộng ra mắt chiến hạm mới nhằm tăng sức mạnh quân sự
Bản quyền hình ảnh REUTERS

Trung cộng hôm thứ Tư vừa cho ra mắt một chiến hạm loại mới, được đóng trong nước, là nỗ lực mới nhất trong việc hiện đại hóa quân sự, truyền thông nước này nói.

Việc ra mắt được thực hiện sau khi Trung cộng 'trình làng' chiếc hàng không mẫu hạm đầu tiên do nước này tự đóng, hồi tháng Tư.

Giữa lúc căng thẳng tại Biển Đông đang tiếp diễn, Bắc Kinh có quan điểm ngày càng quyết liệt về vùng biển mà Trung cộng tuyên bố chủ quyền.
Chiếc tàu khu trục mới 10.000 tấn của Trung cộng sẽ trải qua một quá trình vận hành thử nghiệm nghiêm ngặt.

Chiếc tàu chiến "được trang bị các vũ khí đối không, chống hỏa tiễn, chống tàu và chống tàu ngầm," Tân Hoa Xã nói.

Theo Hoàn cầu Thời báo, loại tàu này được cho là thuộc kiểu khu trục hạm đầu tiên 055, được phát triển, kế thừa từ loại khu trục nhỏ hơn là 052D.

Bảo vệ 'chủ quyền'

Bắc Kinh đã tái xác quyết "chủ quyền không thể tranh cãi" đối với các vùng trên Biển Đông sau khi chính quyền ông Trump nói sẽ ngăn chặn việc Trung cộng chiếm lãnh thổ trong khu vực.

Hoa Kỳ đã lặp đi lặp lại việc gửi tàu và phi cơ quân sự tới gần các hòn đảo có tranh chấp, và gọi đó là hoạt động "tự do đi lại" nhằm đảm bảo quyền tiếp cận tới các tuyến đường biển và đường không then chốt. Cả hai bên cáo buộc lẫn nhau về việc "quân sự hóa" Biển Đông.

Các nước có tranh chấp từ hàng trăm năm nay đã cãi cọ về vấn đề lãnh thổ tại vùng biển quan trọng này, nhưng căng thẳng liên tục gia tăng trong những năm gần đây.

Trung cộng, Việt Nam, Phi Luật Tân, Đài Loan, Mã Lai và Brunei đều tuyên bố chủ quyền từng phần. Trung cộng đã củng cố các yêu sách của mình bằng việc mở rộng xây dựng bồi đắp đảo và tiến hành tuần tra trên biển.

Chiếc khu trục hạm mới ra mắt được coi như một dấu mốc quan trọng nữa sau vụ hạ thủy hàng không mẫu hạm tự đóng đầu tiên hồi tháng Tư, cũng là chiếc hàng không mẫu hạm thứ nhì của Trung cộng sau chiếc mua lại của Ukraine.

Tăng chi phí quân sự

Do nền kinh tế phát triển, Trung cộng đã tiến hành hiện đại hóa các lực lượng có vũ trang của mình.

Trong tháng Ba, nước này tuyên bố sẽ tăng ngân sách quốc phòng lên 7% trong năm nay, là năm thứ hai liên tiếp đặt mức dưới 10% sau gần 20 năm liên tục tăng ở tỷ lệ cao hơn.

Ngân sách quốc phòng của Bắc Kinh tuy vậy vẫn nhỏ hơn so với Mỹ.
Trong lúc Trung cộng có kế hoạch chi khoảng 1,3% tổng sản phẩm kinh tế ước tính trong năm 2017 cho quốc phòng, thì Mỹ chi khoảng 3%.
Do kinh tế Mỹ lớn hơn, nên quy ra tiền đô la thì sự khác biệt giữa chi phí của hai nước là rất lớn.

BBC Tiếng Việt


Căng thẳng Việt-Trung do Bắc Kinh ngang ngược về dầu khí Biển Đông
Vị trí của các lô 118 và 136 so với đường lưỡi bò Trung cộng trên Biển Đông. Địa điểm đặt giàn khoan Hải Dương Thạch Du 981 năm 2014 cũng được ghi chú.CSIS

Một nguồn tin ẩn danh nói với trang mạng quốc phòng Jane’s vào ngày 20/6, là Phạm Trường Long bỏ ngang chuyến đi do các viên chức Việt Nam bác bỏ yêu cầu tạm dừng thăm dò dầu lửa và khí đốt trong phạm vi đường lưỡi bò.

Theo quan điểm của Hà Nội, việc Bắc Kinh chống đối thăm dò dầu khí ở lô 118 và lô 136 không chỉ là vô căn cứ mà còn gây phản cảm. Các lô này không nằm trong khu vực tranh chấp do chồng lấn thềm lục địa, mà chỉ vì đường lưỡi bò ảo mà cả Việt Nam lẫn cộng đồng quốc tế rộng rãi đều không thể chấp nhận được.

Tướng Phạm Trường Long (Fan Changlong), phó chủ nhiệm Quân ủy Trung ương Trung cộng đã lên lịch đi thăm Hà Nội hai ngày từ 18 đến 19/06/2017, rồi gặp gỡ bộ trưởng Quốc Phòng Việt Nam Ngô Xuân Lịch nhân sự kiện giao lưu quốc phòng cấp cao biên giới Việt-Trung từ ngày 20 đến 22/06/2017. Nhưng có điều gì đó không ổn đã xảy ra, vì ông Phạm Trường Long đã bất ngờ rời Hà Nội hôm 18/6 sau khi gặp thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, chủ tịch nước Trần Đại Quang và bộ trưởng Ngô Xuân Lịch.

Hai ngày sau, bộ Quốc Phòng Trung cộng loan báo việc hủy bỏ sự kiện giao lưu quốc phòng biên giới, với « lý do liên quan đến sắp xếp lịch làm việc ». Sự thật dường như là căng thẳng đang âm ỉ giữa Bắc Kinh và Hà Nội sắp bùng nổ - Việt Nam vốn tỏ ra nghi hoặc hơn Phi Luật Tân trước các động thái khuyến dụ gần đây của Trung cộng. Theo tác giả Murray Hiebert, phó giám đốc chương trình Đông Nam Á của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (CSIS), thì đó là do bất đồng về việc thăm dò dầu khí.

Một nguồn tin ẩn danh nói với trang mạng quốc phòng Jane’s vào ngày 20/6, là Phạm Trường Long bỏ ngang chuyến đi do các viên chức Việt Nam bác bỏ yêu cầu tạm dừng thăm dò dầu lửa và khí đốt trong phạm vi đường 9 đoạn, tức đường lưỡi bò do Trung cộng tự ý vạch ra trên Biển Đông. Ông Ngô Sĩ Tồn (Wu Shicun), viện trưởng Viện nghiên cứu Biển Đông của Trung cộng cho rằng cuộc gặp bị hủy bỏ vì « Bắc Kinh coi như Việt Nam không giữ lời hứa là không thăm dò dầu khí tại các khu vực tranh chấp ở Biển Đông ». Hai lô 118 và 136 dường như là trung tâm của bất đồng.

Hồi tháng Giêng, tập đoàn ExxonMobil loan báo kế hoạch khai thác trữ lượng khí đốt ở bờ biển miền trung Việt Nam. Dự án mỏ « Cá Voi Xanh » nằm ở lô 118 cách bờ biển Quảng Ngãi khoảng 100 km, có một phần nhỏ chồng lấn với đường lưỡi bò Trung cộng. Bắc Kinh yêu sách « quyền lịch sử » đối với toàn bộ trữ lượng dầu khí nằm trong đường 9 đoạn này, bất chấp việc Tòa án Trọng tài Thường trực La Haye hồi tháng 7/2016 đã ra phán quyết khẳng định đòi hỏi này là vô căn cứ. Tác giả Hiebert cho biết địa điểm mà Exxon dự định khoan dầu nằm gần đường lưỡi bò, cách khoảng 10 hải lý, nhưng vẫn ở phía ngoài đường ranh tự vạch của Bắc Kinh.

Tất nhiên trữ lượng khí đốt không cần biết đến biên giới, và việc khoan thăm dò của Exxon có thể bị Bắc Kinh coi là đụng chạm đến khu vực bồn trũng Nam Côn Sơn nằm giáp với đường lưỡi bò. Đây cũng là khu vực lòng chảo mà Bắc Kinh đã cho kéo giàn khoan nước sâu Hải Dương Thạch Du 981 (Haiyang Shiyou 981) đến vào năm 2014, gây ra cuộc khủng hoảng lớn kéo dài cả tháng trời giữa Việt Nam và Trung cộng. Điều quan trọng cần ghi nhận theo chuyên gia Murray Hiebert, là dù lô 118 nằm chồng lên đường lưỡi bò, chắc chắn là lô này thuộc về phía Việt Nam trong bất kỳ việc phân định thềm lục địa nào trong tương lai.

Việc thăm dò của tập đoàn Exxon ở lô 118 có vẻ đã chọc giận Bắc Kinh, nhưng ngòi nổ gần hơn cho cuộc xung đột là kế hoạch của Việt Nam nhằm thăm dò trữ lượng dầu khí tại lô 136, ở xa hơn về phía nam. Lô này nằm tại bãi cạn Tư Chính (Vanguard Bank), một thực thể chìm vốn là trở ngại trong quan hệ giữa Hà Nội và Bắc Kinh trong suốt 30 năm qua, được cho là có trữ lượng dầu có thể thương mại hóa.

Bãi cạn Tư Chính nằm cách xa tất cả các đảo nhỏ và rạn san hô tranh chấp, nhưng Bắc Kinh tiếp tục yêu sách chủ quyền, dựa trên đường lưỡi bò không có cơ sở pháp lý. Năm 1992, Trung cộng bán lại quyền khai thác dầu khí tại một lô rất lớn, bao gồm cả bãi cạn Tư Chính, cho một công ty Mỹ nhỏ hơn là Crestone Energy. Hợp đồng khổng lồ này chồng chéo với lô 136 của Việt Nam, hiện đang do công ty Repsol Exploration của Tây Ban Nha quản lý.
Từ khi nắm được lô này hai năm về trước, nằm trong khuôn khổ việc mua lại công ty Úc Talisman Energy, Repsol vẫn giám sát khu vực để chuẩn bị cho công tác thăm dò dầu khí. Theo lời đồn đãi, thì Hà Nội đã thông qua một kế hoạch để công ty sớm tiến hành khoan thăm dò, bất chấp sự phản đối của Bắc Kinh. Không biết có phải là một sự trùng hợp hay không, ông Phạm Trường Long cùng với phái đoàn của ông đã đến Tây Ban Nha ngay trước chuyến thăm Việt Nam.

Cả Repsol lẫn Hà Nội đều không đưa ra tuyên bố chính thức. Nhưng một chiếc tàu Việt Nam không rõ tên hiệu, dường như đã được điều đến tuần tra ở lô 136 ngay sau khi ông Phạm rời Hà Nội. Theo các dữ liệu của Windward, một công ty chuyên phân tích số liệu và rủi ro hàng hải, thì chiếc tàu đã đến khu vực này vào buổi sáng ngày 19/6 theo giờ địa phương, và đã hoạt động theo kiểu đi điều tra hoặc tuần tra.

Căng thẳng cũng được thể hiện trong bối cảnh Việt Nam đang có những bước đi nhằm siết chặt hơn quan hệ với Hoa Kỳ và Nhật Bản, chắc chắn là sẽ làm Trung cộng bực tức. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã đi thăm Nhà Trắng hồi tháng Năm, và sau đó Washington đã chuyển giao một chiếc tàu tuần duyên lớp Hamilton cho lực lượng cảnh sát biển Việt Nam. Vào thời gian cuối của chuyến viếng thăm, Hoa Kỳ và Việt Nam đã đưa ra thông cáo chung, loan báo rằng Việt Nam hoan nghênh một hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ lần đầu tiên thăm vịnh Cam Ranh, vốn là cảng nước sâu được quân đội Mỹ khai thác trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam trước đây.

Hoa Kỳ và Việt Nam cũng thỏa thuận tăng cường chia sẻ tin tức tình báo. « Chúng tôi sẽ không chia sẻ thông tin quân sự về tổ chức Nhà Nước Hồi Giáo tại Trung Đông đâu » - một viên chức Việt Nam nói đùa, ngụ ý rằng các thông tin san sẻ là thuộc lãnh vực phòng bị hàng hải trên Biển Đông. Việt Nam cũng quan tâm đến việc mua thêm các thiết bị quốc phòng của Mỹ, một điều đã trở thành khả thi sau khi Washington dỡ bỏ cấm vận vũ khí cách đây một năm. Bộ trưởng Quốc Phòng Việt Nam Ngô Xuân Lịch cũng dự kiến đi thăm Washington lần đầu tiên để gặp gỡ tướng James Mattis, bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ trong những tháng tới, có thể là vào tháng Tám.
Rất nhanh sau chuyến công du Washington, thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã đến ngay Tokyo. Theo một thông cáo chung, Việt Nam và Nhật Bản đã thỏa thuận về quan hệ « đối tác chiến lược rộng rãi » và tăng cường hợp tác trong lãnh vực quốc phòng cũng như an ninh. Tokyo cam kết viện trợ trên 900 triệu đô la cho Hà Nội trong nhiều dự án khác nhau, trong đó có cả các hoạt động tuần duyên và cung cấp sáu tàu tuần tra. Chẳng bao lâu sau chuyến viếng thăm này, Nhật Bản và Việt Nam đã tiến hành tập dượt chung giữa tuần duyên hai nước, tập trung vào việc chống đánh cá bất hợp pháp – và có vẻ đã làm cho Bắc Kinh cay cú.

Theo quan điểm của Hà Nội, việc Bắc Kinh chống đối thăm dò dầu khí ở lô 118 và lô 136 không chỉ là vô căn cứ mà còn gây phản cảm. Các lô này không nằm trong khu vực tranh chấp do chồng lấn thềm lục địa, mà chỉ vì đường lưỡi bò ảo mà cả Việt Nam lẫn cộng đồng quốc tế rộng rãi đều không thể chấp nhận được.

Trong khi đó, Trung cộng tiếp tục khai thác dầu khí ở cửa vịnh Bắc Bộ và quần đảo Hoàng Sa chiếm được của Việt Nam bằng vũ lực năm 1974. Hôm 16/6, ngay trước khi Phạm Trường Long đến Hà Nội, giàn khoan Hải Dương Thạch Du 981 lại được kéo đến phía nam đảo Hải Nam. Theo một thông báo của Cục Hải Sự Trung cộng (China Maritime Safety Administration), giàn khoan này sẽ hoạt động tại khu vực cho đến ngày 15/9.

Giàn khoan Hải Dương Thạch Du 981 lần này đặt ở vị trí đường trung tuyến giữa bờ biển hai nước, ở phía Trung cộng ; và trong khi việc phân ranh về mặt kỹ thuật vẫn đang bị treo lại, thì địa điểm này vẫn thuộc Trung cộng. Còn các lô 118 và 136 tuy rõ ràng thuộc về Việt Nam, nhưng Bắc Kinh lại đòi Hà Nội phải rút ra. Theo chuyên gia Murray Hiebert, kiểu cách xử sự ngang ngược này làm các lãnh đạo Việt Nam hết sức bực tức.

Thụy My (RFI)



Những ẩn số và biến số trên bàn cờ Biển Đông

Biển Đông. Ảnh minh họa

“Ai kiểm soát Biển Đông sẽ thống trị châu Á, và bất cứ ai thống trị châu Á sẽ thống trị thế giới.” (Alexander Vuving, “Trung cộng sẽ làm gì ở Biển Đông”, Đại sử ký Biển Đông, 21/2/2016).

Trong báo cáo “Asia-Pacific Rebalance 2025: Capabilities, Presence, and Partnerships”, CSIS, January 19, 2016), các chuyên gia CSIS đã cảnh báo rằng Trung cộng trỗi dậy là “thách thức chính” đối với Mỹ, và “đến năm 2030 thì Biển Đông hầu như sẽ trở thành cái ao của Trung cộng” (“by 2030 the South China Sea will be virtually a Chinese lake”). Liệu Việt Nam và Mỹ có muốn điều đó không, và có thể làm gì để ngăn chặn điều đó?

Biển Đông lại nổi sóng

Đầu tháng 5/2014, Trung cộng kéo dàn khoan khổng lồ HD891 vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam tại Biển Đông, tạo ra khủng hoảng và bước ngoặt trong quan hệ Việt-Trung. Nếu sự kiện đó là “tập một” trong chiến lược giàn khoan (oil rig offenssive) thì những gì đang diễn ra có thể là “tập hai”, nhằm từng bước biến Biển Đông thành cái ao của Trung cộng (nếu Mỹ và các nước khác hành động quá ít và quá chậm). Ngày 16/6/2017, Trung cộng lại thông báo giàn khoan HD981 “sẽ hoạt động ngay gần cửa vịnh Bắc Bộ trong 3 tháng…”

Trong khi HD891 tiếp tục di chuyển xuống phía Nam thì Trung cộng triển khai khoảng 40 tàu hải giám (và máy bay Y8) tại khu vực quanh bãi Tu Chính (Vanguard Bank) để ngăn cản Việt Nam triển khai dự án khai thác dầu Cá Rồng Đỏ (lô 136-3) cách Vũng Tàu khoảng 450km (trong vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam), do PetroVietnam hợp tác với Talisman (nay là Repsol của Tây Ban Nha). Theo Carl Thayer (UNSW) có khả năng xảy ra đụng độ trong những ngày tới. Lê Hồng Hiệp (ISEAS) cũng nhất trí: “Nếu Việt Nam tiếp tục khẳng định chủ quyền của mình và tiếp tục thăm dò, thì đương nhiên sẽ xảy ra đụng độ với Trung cộng”.

Biển Đông lại nổi sóng và kịch bản cũ dường như đang được lặp lại, nhưng trong một bối cảnh mới khó dự đoán hơn, vì có nhiều ẩn số và biến số. Theo Bill Hayton (BBC, 26/6/2017), tướng Phạm Trường Long đã đến Tây Ban Nha trước khi đến Việt Nam (có lẽ để yêu cầu chính phủ Tây Ban Nha ép Repsol bỏ cuộc). Chưa biết Việt Nam sẽ nhượng bộ hay sẽ thách thức Trung cộng. Lúc này có thể Trung cộng chưa sẵn sàng làm liều, vì họ còn đang bận chuẩn bị Đại hội Đảng 19 (vào cuối năm nay) và đang triển khai chiến dịch lấy lòng người (Charm Offensive) để quảng cáo cho quốc sách “Một vành đai, Một con đường”.

Trong khi đó, dư luận Việt Nam (và quốc tế) đang ồn ào về sự kiện tướng Phạm Trường Long (phó chủ tịch quân ủy TW) và phái đoàn quân sự cấp cao Trung cộng đến Hà Nội (18/6/2017) đã đột ngột bỏ về. Tại sao tướng Long đến rồi lại đột ngột bỏ về? Nguyên nhân gì làm quan hệ Việt-Trung căng thẳng? Liệu có dẫn đến xung đột hay không? Ý nghĩa của hợp tác chiến lược Viêt-Mỹ/Việt-Nhật? Và những biến số trên bàn cờ Biển Đông?

Để làm rõ các câu hỏi đó, cần đặt chúng trong bối cảnh mới. Quan hệ Viêt-Trung có nhiều vấn đề, nhưng tranh chấp Biển Đông vẫn là then chốt nhất, vì nó không chỉ liên quan đến quan hệ song phương Việt-Trung (như Trung cộng muốn) mà còn liên quan đến nhiều nước khác ngoài ASEAN, đặc biệt là tam giác Mỹ-Trung-Nhật. Những biến chuyển trong quan hệ Viêt-Mỹ và Việt-Nhật gần đây đã tác động trực tiếp đến quan hệ Việt-Trung.

Tại sao Phạm Trường Long đột ngột bỏ về?

Sau hai chuyến đi Mỹ và Nhật (liền nhau) của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, với kết quả đạt được về kinh tế và an ninh, chắc chắn Trung cộng khó chịu và phản ứng. Tại sao lần này Bắc Kinh lại cử tướng Phạm Trường Long (Fan Changlong) chứ không phải Dương Khiết Trì hay Trương Cao Lệ (như lần trước)? Có lẽ vì vấn đề cốt lõi trong chuyến đi Mỹ và Nhật của Thủ tướng Phúc là hợp tác quốc phòng. Tuy vấn đề thương mại (ký được hợp đồng $8 tỷ với Mỹ) cũng quan trọng, nhưng không quan trọng bằng thỏa thuận về quốc phòng.

Về điểm này, tôi tán thành nhận xét của Lê Hồng Hiệp: “đáng chú ý là nội dung về hợp tác quốc phòng giữa hai bên, Việt Nam và Hoa Kỳ, cũng như Việt Nam và Nhật Bản, được nêu bật, đặc biệt là trong tuyên bố chung giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, hai bên thảo luận việc để hàng không mẫu hạm của Hoa Kỳ vào cảng Cam Ranh. Đây có thể là nguyên nhân chính khiến cho Trung cộng không cảm thấy thoải mái, và rõ ràng là Trung cộng muốn gây sức ép để Việt Nam không nghiêng quá gần về phía Hoa Kỳ hay Nhật Bản, vì Hoa Kỳ và Nhật Bản là những đối thủ cạnh tranh chiến lược với Trung cộng trong khu vực này”. (ISEAS, June 20, 2017).

Hà Nội có biết trước là Bắc Kinh sẽ phản ứng không? Chắc chắn là biết. Nhưng Việt Nam bị mắc kẹt (như “catch- 22”) giữa hai nước lớn, nên buộc phải cân bằng quan hệ trong tam giác Mỹ-Trung-Việt. Tuy không muốn làm mất lòng Trung cộng, nhưng Việt Nam phải tăng cường hợp tác với Mỹ và Nhật vì lợi ích sống còn (cả kinh tế và an ninh). Vì vậy, Chủ tịch nước Trần Đại Quang phải đi thăm Trung cộng (11-15/5/2017) trước khi Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đi thăm Mỹ (29-31//2017). Đó là nước cờ “ngoại giao phòng ngừa” để cân bằng quan hệ với hai nước lớn, nhưng có thể không đủ để xoa dịu Bắc Kinh, vì lợi ích cốt lõi của hai bên khác nhau tới mức không thể dung hòa. Xã luận Thời báo Hoàn Cầu chỉ trích Việt Nam ngay khi tướng Long đến Hà Nội. Họ lớn tiếng kẻ cả khuyên ta “chọn bạn mà chơi”, ám chỉ Việt Nam không được xích lại quá gần Mỹ và Nhật (Global Times, May 18, 2017).

Ngày 18/6/017, thượng tướng Phạm Trường Long cùng một đoàn sỹ quan cao cấp gồm tư lệnh mặt trận Phía Nam (Viên Dự Bách), Phó Tổng tham mưu trưởng Liên quân (Thiệu Nguyên Minh), Tham mưu trưởng Lục quân (Lưu Chấn Lập), Phó Tư lệnh Hải quân (Lưu Nghị), Phó Chính ủy Không quân (Tống Côn), và Đại sứ Hồng Tiểu Dũng, đã đến Hà Nội. Tướng Long đã gặp các lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước và Quân đội Việt Nam. Đây là lần đầu tiên từ sau chuyến thăm của Bộ trưởng Quốc phòng Thường Vạn Toàn (3/2016), Trung cộng cử một đoàn quân sự cấp cao như vậy đến Việt Nam, chắc không phải vô cớ.

Theo New York Times (21/6/ 2017), Bộ Quốc phòng Trung cộng thông báo chương trình Giao lưu Hữu nghị Quốc phòng biên giới Việt-Trung lần thứ 4 đã bị hủy vì “những lý do liên quan đến sắp xếp” giữa hai nước. Nhưng nguyên nhân thực sự là tướng Long “đã tỏ ra giận dữ trong hội đàm kín” về tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông và hoạt động ngoại giao tích cực của Việt Nam với Mỹ và Nhật vừa qua. Tướng Long đã cắt ngắn chuyến thăm và rời Việt Nam tối 18/6 mà không công bố nguyên nhân. Người phát ngôn Bộ Ngoại Giao Trung cộng tránh né không giải thích, trong khi báo chí chính thống của Việt Nam không đưa tin. Trong hội đàm chính thức với Việt Nam, tướng Long nhấn mạnh “toàn bộ các đảo ở Biển Nam Hải đã thuộc lãnh thổ Trung cộng kể từ thời thượng cổ”. Báo chí chính thống của Việt Nam cũng không đưa tin. (Vào lúc đó các báo đài bận kỷ niệm “ngày báo chí cách mạng” 21/6).

Nguyên nhân căng thẳng Việt-Trung

Hiện nay, Việt Nam đang đứng trước sức ép to lớn và thách thức nan giải, cả về kinh tế lẫn an ninh, buộc chính phủ phải đổi mới thể chế và điều chỉnh chiến lược nước lớn sang tư thế “tái cân bằng tích cực” (pro-active rebalancing). Muốn duy trì tính chính danh của chế độ trước cộng đồng quốc tế và cộng đồng dân tộc, khi dân chúng đã mất lòng tin và bất bình (vì kinh tế xuống dốc, ô nhiễm môi trường, chiếm dụng đất đai, vi phạm nhân quyền, và phụ thuộc Trung cộng), Đảng buộc phải tuyên bố thúc đẩy tái cơ cấu kinh tế (nghị quyết TW5) chống tham nhũng và điều chỉnh quan hệ với các nước lớn, để tìm cách tháo gỡ khó khăn.

Có ba nhóm vấn đề chính cần tháo gỡ. Thứ nhất, kinh tế tiếp tục suy thoái và tụt hậu, ngân sách thâm hụt (thu không đủ chi) vì nợ công quá lớn và nợ nước ngoài đến hạn, nếu không tái cơ cấu kinh tế một cách thực chất thì không thể chặn được đà này. Thứ hai, sau khi Mỹ rút khỏi TPP thì Việt Nam bị hẫng hụt, nếu không đổi mới thể chế và tăng cường hợp tác quốc tế (với Mỹ, Nhật và EU) thì không thể duy trì được tăng trưởng. Thứ ba, hầu như ai cũng muốn thoát Trung, vì đất nước phụ thuộc quá nhiều vào Trung cộng về kinh tế và chính trị nên ngày càng rủi ro và nguy hiểm cho độc lập và chủ quyền quốc gia. Nếu không điều chỉnh quan hệ với các nước lớn đồng thời tăng cường nội lực thì không thể thoát Trung được.

Nếu Trung cộng muốn “trùm chăn” từng nước láng giềng bằng quan hệ song phương để dễ bắt nạt thì các nước (ASEAN) phải tung chăn ra và liên kết lại để cùng đối phó (tại Biển Đông). Tuy Trung cộng có thể dễ dàng bẻ gãy từng chiếc đũa, nhưng khó lòng bẻ gãy cả bó đũa. Nếu bó đũa ASEAN còn yếu, họ càng phải tăng cường liên kết ngoài ASEAN (với Mỹ, Nhật, Ấn, Úc). Xung quanh chuyến đi Mỹ và Nhật của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, có những động thái mới đáng chú ý, được phản ánh trong nội dung Tuyên Bố Chung.

Ngày 22-25/5/2017, Mỹ chuyển giao cho Cảnh sát Biển Việt Nam một tàu tuần duyên (lớp Hamilton, trọng tải 3250 tấn) và 6 xuồng tuần tra tốc độc cao (trong số 18 chiếc đã thỏa thuận). Ngày 2/6/2017, khu trục hạm USS John S. McCain đã đến Cảng Quốc tế Cam Ranh trong khi TNS John McCain dẫn đầu phái đoàn Ủy ban Quân lực Thượng viện (cùng Hạ viện Mỹ) đang thăm Việt Nam, đã gặp Chủ tịch nước Trần Đại Quang, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân và Bộ trưởng Quốc phòng Ngô Xuân Lịch. Sau đó TNS McCain đã đến Cam Ranh thăm tàu USS John S. McCain. Đó là một sự kiện mang ý nghĩa tượng trưng cao. Ngày 11-15/6/2017, tàu USS Coronado (LCS 4) lại đến Cảng Quốc tế Cam Ranh để thực hiện chương trình bảo dưỡng dự phòng viễn dương trong khuôn khổ “chuyến thăm kỹ thuật”. Một ngày không xa, người ta có thể thấy tàu sân bay Mỹ cập Cảng quốc tế Cam Ranh.

Ngày 20/5/2017, tàu sân bay trực thăng JS Izumo (tàu chiến lớn nhất của Nhật) đã đến Cảng quốc tế Cam Ranh để tham gia chương trình “Đối tác Thái Bình Dương 2017” (PP17) tại Khánh Hòa. Cùng đến Cam Ranh để tham gia chương trình PP17 còn có tàu khu trục JS Sazanami của Nhật và tàu vận tải cao tốc USNS Fall River của Mỹ. Ngày 13/6/2017, tàu tuần dương JS Echigo của Nhật lại đến cảng Tiên Sa, Đà Nẵng để tham gia chương trình huấn luyện chung với Bộ tư lệnh Cảnh sát Biển Vùng 2 về phối hợp hoạt động trên biển. Nói cách khác, những hoạt động hợp tác hải quân nói trên là một sự răn đe đối với Trung cộng.

Liệu căng thẳng có dẫn đến xung đột?

Việt Nam bị sức ép phải duy trì tốc độ tăng trưởng nên buộc phải tăng cường khai thác dầu khí tại Biển Đông, mặc nhiên sẽ đụng chạm tới cái mà Trung cộng coi là lợi ích của họ. Trung cộng sẽ tìm mọi cách ngăn cản các hoạt động này của Việt Nam. Vì vậy, sẽ không ngạc nhiên nếu mâu thuẫn Việt-Trung tăng lên khi Việt Nam tiếp tục khai thác dầu khí, và tăng cường hợp tác hải quân với Mỹ và Nhật, qua hai chuyến đi của ông Phúc. Có lẽ đây là nguyên nhân chính làm quan hệ Viêt-Trung căng thẳng, và làm tướng Long bỏ về sớm. Tuy đây là “một chuyện chưa từng có tiền lệ” (theo lời ông Nguyễn Vinh Quang, cựu phó Đại sứ VN tại Trung cộng), nhưng có thể Bắc Kinh đã tính toán từ trước, chứ không phải ngẫu nhiên.

Việt Nam thăm dò, khai thác dầu khí trên thềm lục địa của mình là một việc chính đáng, không làm phức tạp thêm tình hình vì Việt Nam có chủ quyền ở đó theo Luật Biển của LHQ. Nhưng nếu Trung cộng phản đối và ngăn cản bằng vũ lực thì họ sẽ thách thức quan hệ Việt-Trung, tạo ra khủng hoảng mới, ngang bằng (thậm chí lớn hơn) vụ khủng hoảng giàn khoan tháng 5/2014. Tuy nhiên trong bối cảnh hiện nay, chắc cả hai bên đều không muốn xảy ra xung đột (vì chưa sẵn sàng). Nhưng liệu trong thời gian tới, hai bên có thể ngăn chặn được xung đột hay không, vẫn là một câu hỏi khó đoán (vì còn nhiều ẩn số và biến số). Nhưng cả hai bên đều không thể nhượng bộ, vì phải giữ thể diện và lợi ích cốt lõi. Tuy lần này chưa xảy ra bạo loạn (như tháng 5/2014), nhưng khó kiềm chế được người dân biểu tình chống Trung cộng.

Nếu Việt Nam khẳng định chủ quyền của mình và tiếp tục thăm dò dầu khí tại dự án Cá Voi Xanh (lô 118) và Cá Rồng Đỏ (lô 136-3), thì có thể xảy ra đụng độ với Trung cộng. Trong trường hợp Việt Nam rút các tàu thăm dò của mình về thì vô hình trung thừa nhận khu vực đó có tranh chấp, và như vậy phải từ bỏ lợi ích sống còn của mình cho Trung cộng. Nếu Trung cộng bỏ qua vụ này, thì vô hình trung họ chấp nhận “một tiền lệ nguy hại cho chiến lược Biển Đông của Trung cộng” (theo Alexander Vuving). Chính vì phải giữ thể diện và lợi ích quốc gia mà hai bên khó hóa giải được mâu thuẫn. Nếu Trung cộng đưa lực lượng Hải giám (và giàn khoan HD891) tới áp đảo, mà Việt Nam vẫn không chịu lùi bước, thì xác xuất rủi ro xung đột rất cao. Nếu Trung cộng dấn tới, họ sẽ thách thức không chỉ Việt Nam mà còn nhiều nước khác trong và ngoài khu vực có lợi ích về tự do hàng hải ở Biển Đông. Vấn đề là thái độ phản ứng của Mỹ và Nhật thế nào? Tuy họ chia sẻ với Việt Nam về tầm nhìn chiến lược tại Biển Đông, nhưng họ chưa phải là đồng minh chiến lược, mặc dù lợi ích chiến lược của chính họ cũng khó cho phép họ làm ngơ. Hàng năm lưu lượng hàng hóa đi qua Biển Đông là hơn $5,000 tỷ (bằng gần một nửa thương mại quốc tế), trong đó riêng Mỹ chiếm $1,200 tỷ.

Từ sau vụ khủng hoảng giàn khoan (5/2014), quan hệ Việt-Trung đã tốt hơn. Việt Nam vừa cảnh giác, vừa cố gắng cải thiện quan hệ với Trung cộng, đồng thời tăng cường hợp tác với các đối thủ chiến lược của Trung cộng là Mỹ, Nhật, và lôi kéo sự quan tâm của EU và các nước khác tới Biển Đông. Quan trọng hơn, các sáng kiến hợp tác quốc phòng cụ thể giữa Việt Nam với Mỹ và Nhật cũng được nêu bật trong các tuyên bố chung trong hai chuyến đi Mỹ và Nhật mới đây của Thủ tướng Phúc. Các tuyên bố này nhấn mạnh lập trường cứng rắn của Việt Nam với Mỹ và Nhật về Biển Đông. Mỹ và Nhật bắt đầu chuyển giao cho Việt Nam tàu tuần duyên và xuồng tuần tra, và giúp Việt Nam nâng cao năng lực hàng hải. Những động thái nói trên chắc làm Bắc Kinh tức giận và phản ứng. Cho dù lý do thực sự làm tướng Long bỏ về là cố ý (hay bị “mời về”) thì sự cố đó không phải là một tín hiệu tốt cho quan hệ hai nước. Vì vậy trong thời gian tới có thể xảy ra một làn sóng căng thẳng mới trong quan hệ Việt-Trung.

Theo Carl Thayer, nếu tướng Long khẳng định “Nam Hải (Biển Đông) là lãnh thổ Trung cộng từ thời xa xưa” và yêu cầu Việt Nam ngừng thăm dò dầu khí tại mỏ Cá Voi Xanh và Cá Rồng Đỏ, thì chắc Việt Nam sẽ coi tuyên bố và yêu cầu đó là “quá khích” (inflammatory). Lãnh đạo Việt Nam chắc sẽ từ chối và phản ứng bằng cách khẳng định lại chủ quyền của mình tại Biển Đông. Alexander Vuving cũng nhận định: “có thể cả hai phía đều tính toán sai” và cả hai quốc gia “đều quyết tâm chứng tỏ cho phía bên kia thấy quyết tâm của mình về chủ quyền”. Dù sao, việc tướng Long đột ngột bỏ về tối 18/6 là một dấu hiệu bất thường làm sóng gió đang nổi lên trong quan hệ Viêt-Trung.
(“China Cancels Military Meeting With Vietnam Over Territorial Dispute”, Mike Ives & Jane Perlez, New York Times, 21/6/2017).

Ý nghĩa hợp tác chiến lược

Trong bối cảnh Việt Nam tăng cường hợp tác toàn diện với Mỹ, dự án hợp tác PetroVietnam và Exxon Mobil đã ký (1/2017) để khai thác mỏ Cá Voi Xanh (lô 118) vừa có ý nghĩa kinh tế to lớn (trị giá $10 tỷ) vừa có ý nghĩa chiến lược phòng vệ (hedging). Trước đây, Exxon Mobil không sợ Trung cộng, thì bây giờ Exxon Mobil càng không sợ, vì Ngoại trưởng Rex Tillerson vốn là CEO của tập đoàn Exxon Mobil. Trung cộng chỉ có thể bắt nạt Việt Nam chứ không bắt nạt được Mỹ và Exxon Mobil. Điều đáng chú ý là mỏ khí Cá Voi Xanh cách Đà nẵng (bán đảo Sơn Trà) có 88km, và giáp gianh “đường lưỡi bò” của Trung cộng.

Cùng với cam kết của Mỹ và Nhật giúp Việt Nam tăng cường năng lực hải quân, quyết tâm triển khai dự án dầu khí Cá Voi Xanh và Cá Rồng Đỏ, cũng như ý định đưa hàng không mẫu hạm Mỹ đến Cảng Quốc tế Cam Ranh là các vấn đề rất nhạy cảm trong quan hệ Mỹ-Trung-Việt, nhất là trong bối cảnh hiện nay có những tin đồn về thỏa thuận ngầm giữa Việt Nam và Mỹ về căn cứ Cam Ranh. Có lẽ đây là ẩn số quan trọng nhất trong hợp tác chiến lược Việt-Mỹ.

Tuy chưa rõ hai bên đã đạt được thỏa thuận hay chưa, nhưng nhiều người tin rằng Việt Nam sớm muộn cũng phải cho Mỹ thuê căn cứ Cam Ranh như một giải pháp tình huống có ý nghĩa răn đe và phòng vệ chiến lược (strategic hedging and deterence) bên cạnh ý nghĩa kinh tế (trong lúc ngân sách gần trống rỗng). Tiếp theo chuyến thăm của Bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ Leon Panetta đến Cam Ranh (3/6/2012) như bước khởi đầu, các chính khách Mỹ và chiến hạm Mỹ đã liên tiếp tới Cam Ranh trong mấy năm qua. Quan trọng nhất là Tổng thống Obama đã tuyên bố bỏ cấm vận vũ khí trong chuyến thăm Việt Nam (23-2/5/2016), mở ra triển vọng hợp tác chiến lược Viêt-Mỹ. Trong bối cảnh căng thẳng Việt-Trung tăng lên, vấn đề Mỹ thuê căn cứ Cam Ranh dường như chỉ là vấn đề thời gian và giá cả cụ thể mà thôi.

Câu chuyện Mỹ thuê Cam Ranh trở nên nhạy cảm và bí ẩn trong chuyến đi Mỹ của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc. Ngày 4/6/2017, Reuters đưa tin Podesta Group là công ty môi giới giữa Chính phủ Việt Nam với Chính quyền Trump (với tiền công là $30.000/tháng) đã kín đáo thừa nhận hai bên đã ký kết “một thỏa thuận quan trọng”. Thỏa thuận đó không phải về thương mại vì không có mặt Bộ trưởng Bộ Thương mại, nhưng lại có mặt Thứ trưởng Bộ Quốc phòng (tướng Nguyễn Chí Vịnh) và Bộ trưởng Bộ Công An (tướng Tô Lâm).

Có một số hiện tượng đáng lưu ý. Hội nghị TW5 lẽ ra họp vào tháng 3/2017 nhưng đã hoãn đến tháng 5/2017 (phải chăng để chờ ông Trump khẳng định?) Ngày 21/5/2017, Nhà Trắng thông báo Tổng thống Trump sẽ tiếp Thủ tướng Phúc ngày 31/5/2017. Liệu ông Trump có mời ông Phúc sang thăm không nếu TW5 không thông qua phương án cho thuê Cam Ranh? Một điểm nữa đáng chú ý là trong vụ khủng hoảng con tin Đồng Tâm, có tin Podesta Group đã nhắn tin cho Hà Nội rằng ông Trump sẽ không mời ông Phúc sang thăm nếu xảy ra đàn áp bằng bạo lực, và nếu vậy thì ông Phạm Bình Minh cũng không nên đi Mỹ.

Trước khi ông Phúc lên đường thăm Mỹ, Reuters lại đưa tin chuyến thăm Mỹ của Thủ tướng Phúc là kết quả của một cuộc “thương lượng ngầm” với Mỹ. Tuyên bố Chung có một đoạn tích cực về Biển Đông: “Tổng thống Donald Trump của Hoa Kỳ nhấn mạnh là nước Mỹ sẽ tiếp tục cho tàu và máy bay di chuyển và hoạt động tại bất cứ nơi nào luật pháp quốc tế cho phép”. Một đoạn khác về song phương: “chính phủ Việt Nam coi trọng và mong muốn thúc đẩy hợp tác hữu nghị với Hoa Kỳ theo hướng thực chất, toàn diện, ổn định và lâu dài trên cơ sở tôn trọng thể chế chính trị của nhau”. Trong câu trên không thấy cụm từ “toàn vẹn lãnh thổ” như mọi khi để ám chỉ chính sách “Ba không” (không có căn cứ quân sự nước ngoài).

Có một chi tiết quan trọng khác là trong khi Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc hội đàm với Tổng thống Trump tại Nhà Trắng (31/5/2017) thì đồng thời tại Hà Nội, Chủ tịch nước Trần Đại Quang và Bộ trưởng Quốc phòng Ngô Xuân Lịch gặp TNS John McCain (Chủ tịch Ủy ban Quân lực Thượng viện). Ngày hôm sau, không phải vô cớ mà TNS John McCain bay đi Cam Ranh, đến thăm chiến hạm USS John S.McCain đang đậu tại Cảng Quốc tế Cam Ranh. Ngày 5/6/2017, phái đoàn John McCain về đến Mỹ đã ra thông cáo: “Chúng tôi hy vọng sự hiện diện của USS John S. McCain là biểu tượng cho sự hòa giải giữa Mỹ và Việt Nam, cũng như nhắc nhở các đồng minh và kẻ thù của chúng ta về cam kết lâu dài của Mỹ tại khu vực”.

Những nghịch lý tại Biển Đông

Theo Báo cáo Asia-Pacific Rebalance 2025, muốn đối phó hiệu quả với sự trỗi dậy hung hăng của Trung cộng hiện nay (đặc biệt là tại Biển Đông), Mỹ phải kết hợp cả ba yếu tố là “tham dự” (engagement), “răn đe” (deterrence) và “trấn an” (reassurance). Đó là một chiến lược đúng, nhưng hơi muộn, vì chưa kịp triển khai thì chính quyền Trump đã thay thế chính quyền Obama, với những bước đi chập chững gây bất an và bất định cho khu vực.

Chính sách ngoại giao đổi chác của ông Trump làm đồng minh Châu Á bất an, lo ngại Mỹ sẵn sàng thỏa hiệp với Trung cộng (để kiểm soát Bắc Triều Tiên), nên không sẵn sàng chống lại sự trỗi dậy hung hãn của Trung cộng. Nếu ông Trump không sẵn sàng thách thức những đòi hỏi ngang ngược của Bắc Kinh ở Biển Đông, thì các nước khu vực có thể bị xô đẩy ngả theo Bắc Kinh. Phi Luật Tân từng là đồng minh gắn bó nhất của Mỹ ở khu vực, nay cũng công khai tách khỏi Mỹ để ngả theo Trung cộng. Nhưng “tuần trăng mật” của Donald Trump và Tập Cận Bình từ sau Mar A Lago Summit đã tàn, vì hợp tác Mỹ-Trung về vấn đề Triều Tiên hầu như chỉ là ảo tưởng, làm Washington thất vọng vì không có kết quả thực chất.

Trong khi đó, Trung cộng vận dụng “Binh pháp Tôn tử” (và cờ vây), tiếp tục triển khai “Tam chủng Chiến pháp” (three-warfare doctrine) kết hợp chiến tranh tâm lý với truyền thông và pháp lý. Tuy Trung cộng không muốn xung đột với Mỹ, nhưng lại gây căng thẳng tối đa tại Biển Đông (như trò “brinkmanship”). Thứ nhât, Mỹ là mối lo lớn nhất của Trung cộng, nên họ gây căng thẳng để hù dọa Mỹ không dám can thiệp vào khu vực này. Nếu xung đột nhỏ với Việt Nam hay Phi Luật Tân xảy ra thì Trung cộng dễ dàng bắt nạt đối phương và coi đó là việc nội bộ (song phương), không liên quan đến Mỹ. Thứ hai, Trung cộng cũng không muốn Nhật, Úc, Ấn Độ can thiệp vào Biển Đông (cùng với Mỹ) vì một liên minh như vậy (Mỹ-Nhât-Úc-Ấn) là mối lo thứ hai của của Trung cộng. Nếu vô hiệu hóa được hai mối lo trên, Trung cộng dễ dàng cô lập, bắt nạt và phân hóa ASEAN (như đang diễn ra hiện nay).

Bị Trung cộng phân hóa nên ASEAN đang đánh mất vai trò, trong khi Mỹ sao nhãng. Đó là thời cơ tốt nhất để Trung cộng bắt nạt nước láng giềng Việt Nam (claimant) hay Singapore (ASEAN coordinator). Theo Alexander Vuving, đây là “cơ hội ngàn vàng” để Trung cộng lấp chỗ trống quyền lực, nhằm thay thế vai trò lãnh đạo khu vực của Mỹ. Trung cộng triển khai chiến lược lấn sân từng bước, thay đổi thực địa tại Biển Đông bằng cách xen kẽ chiến dịch lấy lòng người (Charm Offensive) bằng một đợt dùng sức mạnh để cưỡng chế (coercion). Đó là chính sách “cái gậy và củ cà rốt” tuy cổ truyền nhưng vẫn có tác dụng (nhất thời).

Hiện nay, Việt Nam được coi như lá bài chủ chốt giúp Mỹ ngăn chặn tham vọng bá quyền của Trung cộng muốn độc chiếm Biển Đông, nhất là sau khi Phi Luật Tân đã ngả theo Bắc Kinh. Hợp tác chiến lược Việt-Mỹ là cơ sở thiết yếu cho quan hệ đối tác chiến lược, giúp tăng cường ảnh hưởng của Mỹ ở khu vực, và tăng cường vai trò của Việt Nam trong ASEAN. Mỹ và các đồng minh/đối tác trong khu vực cần lập ra một liên minh trên thực tế (de facto coalition) theo khuôn khổ “đối tác an ninh khu vực” (regional security partnership).

Về lâu dài, lợi ích an ninh của Việt Nam (cũng như ASEAN) gắn liền với “tứ giác Mỹ-Nhật-Úc-Ấn” (bên cạnh cộng đồng ASEAN). Một liên minh “defacto” như vậy có thể chia sẻ thông tin tình báo, hợp tác hải quân và hàng hải để nâng cao năng lực an ninh quốc phòng. Thông qua chuyển giao trang thiết bị/huấn luyện/tập trận chung, liên minh này có thể giúp các nước khu vực (như Việt Nam) từng bước tham gia tuần tra Biển Đông (FONOPs). Chỉ có như vậy mới có thể giúp các nước ASEAN tự tin, đoàn kết và “thoát Trung”.

Mấy lời cuối

Cuộc chiến “mèo vờn chuột” trên Biển Đông đang gia tăng. Lực lượng Hải giám hùng hậu của Trung cộng như “hạm đội dân quân biển” ngày càng hung dữ. Những vụ tàu Hải giám Trung cộng đâm tàu Kiểm ngư Việt Nam còn gia tăng, có thể dẫn đến xung đột trên biển rất nguy hiểm, dễ rơi vào bẫy Trung cộng. Trong khi lực lượng hải quân Việt Nam (hay Mỹ và Nhật) không thể trực tiếp can thiệp, thì “hạm đội dân quân biển” của Trung cộng tung hoành bắt nạt lực lượng Kiểm ngư và Cảnh sát Biển còn nhỏ yếu của Việt nam. Người Việt tuy giỏi đánh du kích (trong rừng) nhưng Biển Đông không giống rừng Trường Sơn.

Nhưng điều đáng lo ngại nhất không phải ta thua vì thiếu tàu chiến hay máy bay, mà sợ “quân đội nhân dân” đánh mất lòng tin của dân, không còn “trung với nước, hiếu với dân”. Lâu nay “quân đội chuyên nghiệp” của ta quá mải mê làm kinh tế để làm giàu, bận chiến đấu tại trận địa Đồng Tâm hay sân golf Tân Sơn Nhất, nên các nhóm lợi ích quân đội tham nhũng không thua kém ai, làm quân đội mất sức chiến đấu. Trong khi Trung cộng quyết liệt chống tham nhũng và cải tổ quân đội, thì chúng ta đã làm gì? Nay lời kêu gọi “quân đội thôi làm kinh tế” để tâp trung bảo vệ tổ quốc, nghe như một khẩu hiệu yếu ớt và muộn màng. Nhưng thà “muộn còn hơn không”, vì đã đến lúc “đổi mới hay là chết” (do “cùng tắc biến”).

Mỹ và Nhật đã bắt đầu chuyển giao cho Cảnh sát Biển Việt Nam một số tàu tuần duyên/tuần tra và tăng cường huấn luyện/tập trận trên biển, nhưng điều này còn quá ít và quá chậm (too little too latte) trước tình thế cấp bách hiện nay. Tàu tuần duyên (lớp Hamilton) mà Mỹ vừa chuyển giao cho Việt Nam chưa hoạt động được trước tháng 11/2017 (vì cần 6 tháng huấn luyện sau khi chuyển giao). Có nhiều hệ quả do chính sách “đi dây” cân bằng thụ động của Việt Nam, cũng như chủ trường “lãnh đạo từ phía sau” (leading from behind) của ông Obama, tuy “xoay trục” nhưng “vừa đái vừa run” như “tiếng kèn ngập ngừng” (uncertain trumpet). Mỹ đã để Trung cộng cướp mất bãi cạn Scarborough của Phi Luật Tân, nên đã làm cho ông Duterte mất lòng tin vào Washington, đã quyết định bỏ Mỹ để ngả theo Trung cộng.

Tuy Mỹ vẫn tuần tra Biển Đông (FONOP) nhưng bằng cách “đi qua vô hại” (innocent passage), làm Trung cộng coi thường. Ông Tập Cận Bình đã “nắn gân” và qua mặt ông Obama. Mấy năm qua Trung cộng đã ráo riết “thay đổi thực địa” và quân sự hóa Biển Đông như cắt lát salami, nên đã chiếm được thế thượng phong. Theo Carl Thayer, “Biển Đông nay là cái ao của Trung cộng”. Nhưng cái giá phải trả là Trung cộng đang đẩy Việt Nam vào tay người Mỹ, như trước đây họ đã đẩy Việt Nam vào tay người Nga. Vì vậy, Cam Ranh cũng như Cá Voi Xanh là những ẩn số và biến số có thể làm thay đổi cuộc chơi (game changers).

Dù sao tôi vẫn tin trong trời đất và thế gian này luôn có quy luật “cùng tắc biến, biến tắc thông”. Cái gì không thể xấu hơn được nữa thì sẽ tốt lên. Trong mọi chuyện xảy ra trên đời này, luôn có quy luật “hệ quả không định trước” (unintended consequences).

Nguyễn Quang Dy
Nguồn: viet-studies