Tình buồn của người đàn ông Việt 30 năm sống không quốc tịch

Tình buồn của người đàn ông Việt 30 năm sống không quốc tịch

LTS: Trúng tiếng sét ái tình với một cô gái Nga, chàng thanh niên Việt Nam đang theo học ở Kiev đã từ bỏ tương lai tươi sáng ở phía trước, bỏ trốn đến nước Cộng hòa Kirghizia (Kyrgyzstan) theo tiếng gọi của tình yêu để rồi trở thành người không quốc tịch suốt 30 năm qua. Thế nhưng, số phận không mỉm cười với người đàn ông Việt Nam này. Người vợ yêu quý mà anh đánh cược cả sự nghiệp cuối cùng cũng rời bỏ anh vì căn bệnh ung thư quái ác, để lại cho anh 4 đứa con thơ dại trong những năm đầy biến động của nước cộng hòa Liên Xô cũ… Cuộc đời anh như một thiên truyện, mà may mắn thay, phóng viên Dân Việt đã có dịp đến Kirghizia, gặp gỡ anh và ghi lại câu chuyện đầy xúc cảm này.

Ông Nguyễn Duy Dinh ở Kirghizia.

Mỗi người Việt Nam rời Tổ quốc ra đi, rồi ở lại nước ngoài đều có một lý do riêng, và mảnh đời của họ nếu được chép lại cũng giống như một thiên truyện, bên cạnh những kỷ niệm êm đềm còn có bao khúc quanh chứa đầy nỗi éo le và uần khúc.

Tiếng sét ái tình


Suốt ba chục năm, trên chặng hành trình qua hàng chục nước và hầu khắp trên nước Nga rộng lớn, tôi đã được nghe, đã gặp gỡ nhiều người Việt tha hương, cũng có người thành đạt, có cuộc sống đề huề, yên ổn; và có bao nhiêu số phận người Việt nổi chìm, mỗi người mỗi cảnh.

Mùa đông này, tôi đến Kirghizia, một vùng đất mà những người thuộc thế hệ của tôi ai cũng hằng yêu mến, bởi đó là quê hương của nhà văn của tuổi thơ: Tsinghi Aitmatov, tác giả của Chuyện núi đồi và thảo nguyên, Người thầy đầu tiên, Cây phong non trùm khăn đỏ, Giamilia, Măt lạc đà, Con tàu trắng…Tôi đã được toại nguyện, đã được đặt chân lên miền thảo nguyên đầy nắng gió, được gặp những người dân hiền lành, chất phác, được ngắm đỉnh Thiên Sơn cao ngất và đã đứng trước bức tượng đồng tạc bức chân dung toàn thân của nhà văn tôi hằng ngưỡng mộ: Tsinghi Aitmatov.

Và ở đây, tôi đã được nghe, được gặp và cùng ăn tối cùng một gia đình tam đại đồng đường Việt – Kirghizia trong một căn nhà ở ngoại ô Bisket, một bữa ăn nửa Việt, nửa Kirghizia, nghĩa là các món ăn pha trộn phong cách ẩm thực hai dân tộc. Điều đặc biệt là tất cả mọi người trong mâm đều cầm đũa, kể cả cháu bé chưa đầy ba tuổi.

Chủ gia đình, ông Nguyễn Duy Dinh, người có thâm niên ba chục năm tại mảnh đất xa xôi, cách trở này có dịp cởi mở câu chuyện riêng tư khi gặp được một người đồng tuế, đồng hương Hà Tĩnh.

Đại gia đình ông Dinh sống ở Kirghizia.

Năm 1986, anh được cử sang Liên Xô du học, và được đưa đến học dự bị tiếng Nga tại một nước Cộng hòa rất xa Matxcơva, đó là thành phố Phrunze, Thủ đô nước Cộng hòa Kiecghizia. Phrunze sau khi Liên Xô tan vỡ, được đổi tên là Bisket, là một thành phố bình dị với những ngôi nhà thuần xô viết, cao từ năm, đến chín tầng, với những công viên rất rộng, đầy cây xanh và tượng đài. Lúc này, một số trường Đại học tại Phrunze vẫn đón học sinh nước ngoài học tiếng Nga.

Theo truyền thống của Đoàn Thanh niên Comxomol, sinh viên người Kirghizia thường tổ chức những buổi giao lưu với sinh viên nước ngoài, nhất là sinh viên Việt Nam, những người gắn bó nhất với Liên Xô. Những buổi giao lưu thường nhảy múa, đọc thơ Nga, hát những bài hát Nga và đi cắm trại. Anh sinh viên Nguyễn Duy Dinh là bí thư chi đoàn, thường phải lo tham gia vào khâu tổ chức, nên có nhiều cơ hội gặp gỡ với một số sinh viên bản địa. Và tiếng sét ái tình đã dội xuống đầu anh cùng cô Natalia, sinh viên Trường Đại học Sư phạm ngay trong năm đầu tiên anh học dự bị tiếng Nga.
Đó là điều anh không thể ngờ tới, bởi vì anh chưa bao giờ dám nghĩ đến chuyện yêu một cô gái Hà Nội, huống hồ đây là một cô gái nước ngoài; hơn nữa, lúc bấy giờ, yêu người nước ngoài, mặc dù không có quy định bằng giấy trắng mực đen, nhưng được coi là một trọng tội.

Anh và Natalia bí mật gặp gỡ nhau sau các buổi học, các buổi dạ hội, đi xem phim, theo cách hẹn hò bấy giờ, thời chưa có điện thoại di động và intenet. Mặc dù chưa một lời thề non, hẹn biển, nhưng hai người gắn bó với nhau, thông cảm với nhau, chia sẻ bao câu chuyện về quê hương, làng xóm và gia đình bằng thứ tiếng Nga mới vỡ vạc.

Kết thúc năm học một cách chóng vánh, anh Dinh cùng lớp dự bị được chuyển về Kiev, thuộc Cộng hòa Ukraina, học chuyên môn chính thức. Đêm chia tay, cả hai bí mật ra một công viên nhỏ xa ký túc xá, tránh sự để ý của bạn bè, để nói lời tiễn biệt. Đối với anh, đây là lần gặp cuối cùng với cô gái thảo nguyên nhỏ nhắn và xinh đẹp, vì đường xa vạn dặm, không hề có một điều kiện thuận lợi nào để đi đến tương lai riêng của hai người. Nhưng đối với Natalia thì lại khác, cô vẫn tin tưởng một cách mãnh liệt rằng, cô sẽ gặp lại anh và số phận hai người dường như Thượng đế sinh ra là để cho nhau.
Suốt bốn năm học ở Kiev, ngày nào anh và Natalia đều viết thư cho nhau như một thói quen ghi nhật ký. Những bức thư đó không bị một ai trong đơn vị bóc trộm và không bị một ai trình báo về việc anh Dinh có nhiều thư, bởi một lý do là anh đều dùng thư lưu ở bưu điện. Hàng ngày sau buổi học, anh đến đó và nhận tại hộp thư riêng của mình!

Trong những ngày chuẩn bị bảo vệ luận án tốt nghiệp, với anh là giai đoạn bận rộn và căng thẳng nhất, phần thì thời gian quá cạn hẹp cho việc chuẩn bị kỳ thi cuối cùng, phần thì tranh thủ mua sắm các thứ quà cáp và vật dụng bằng những đồng tiền học bổng tiết kiệm được, nhưng cái chính là trăn trở viết một bức thư dài nói những lời chia tay vĩnh viễn với Natalia.

Khi đơn vị tổ chức liên hoan để chờ ngày về nước, thì anh sống trong tình trạng phân thân giống như “kép Tư Bền” ngẩn ngơ như một nhà thơ sầu muộn.

Buổi chiều định mệnh…

Vào buổi chiều trước khi về nước ba ngày, trong lúc anh đang đóng gói va ly và hòm xiểng, thì chuông của bà thường trực réo lên, bảo anh xuống tầng một có khách. Anh lật đật bấm thang máy chạy xuống và phân vân vì anh không hề hẹn ai; đoán non, đoán già chắc là một anh đồng hương đến gửi quà chăng?. Cửa thang máy mở, anh sững người, trước mặt anh là Natalia trong bộ quần áo đi đường mệt mỏi, nhưng đôi mắt ngời lên vì hạnh phúc. Anh xin bà thường trực cho phép Natalia lên thăm một tiếng, bà thường trực vui vẻ đồng ý.

 Anh bày tạm bánh mì và thức ăn sinh viên đạm bạc có sẵn mời Natalia và lắng nghe câu chuyện về chuyến thăm đường đột của cô. Natalia cho biết, khi hay tin anh chuẩn bị về Việt Nam, thi xong môn cuối cùng, cô gom hết những đồng tiền học bổng ít ỏi, vay thêm của bạn bè, cũng không đủ tiền mua vé máy bay bay thẳng tới Kiev, mặc dù lúc đó giá vé chỉ mỗi 35 rúp. Cô đành chọn con đường đi ô tô buyt đường dài sang cộng hòa Kazakxtan, rồi bay từ đấy về Kiev thì vừa đúng túi tiền. Natalia nghẹn ngào thừa nhận là cô không thể sống thiếu anh.

Mọi quyết định diễn ra trong khoảnh khắc. Natalia ra phố đợi, còn anh để nguyên toàn bộ đồ đạc đang xếp dở, bỏ lại tất cả từ quần áo, quà cáp vật dụng, chỉ mang mỗi giấy tờ và chiếc cặp như đi đến trường, và rời ký túc xá. Khi đơn vị báo về Sứ quán là anh bị mất tích, thì lúc là anh đang trên chuyến tàu Kiev – Kirghizia, chặng đường ngót năm ngàn km.

Thủ đô Phrunze của Cộng hòa Kirghizia thời đó không hề có lao động và sinh viên người Việt Nam, người đi đường hầu như không lúc nào bị kiểm tra giấy tờ, hơn nữa, người Việt và người Kirghizia vóc dáng và khuôn mặt  hao hao giống nhau, nên anh sống với Natalia trong ký túc xá Đại học Sư phạm một cách yên ổn.

Cuối năm đó, hai người làm lễ cưới, Natalia tốt nghiệp và làm giáo viên Trung học ngay tại Thủ đô. Sinh hoạt của hai người tạm ồn, nhưng năm sau, năm 1984, đứa con gái đầu lòng Olia ra đời, thì cả gia đình rơi và cảnh khó khăn, thiếu thốn. Anh không thể tìm đâu được việc làm vì không có giấy tờ, đành phải ra ga tàu đẩy xe, bốc vác. Anh chỉ dám làm việc đêm khuya muộn, còn ban ngày anh không dám ra ga tranh việc của công nhân bốc vác người bản xứ. Những năm hậu xô viết ở nước cộng hòa xa xôi rơi vào khủng hoảng nặng nề, gia đình anh lại túng quẫn gấp bội, sau khi ba cháu nữa tiếp tục ra đời. Anh chỉ có mỗi niềm an ủi là, mặc dù đói nghèo, thiếu thốn, nhưng gia đình vô cùng đầm ấm và hạnh phúc, Natalia chưa hề có một lời trách cứ, không hề mảy may ân hận vì đã trao số phận cho một người lưu vong, đúng theo nghĩa đen của nó.

Hồi mới lấy Natalia, anh có viết thư về cho người anh ở Việt Nam, báo tin về hoàn cảnh hiện tại của mình, nhưng sau đó không hiểu vì sao, những bức thư viết về không có hồi âm, anh không dám viết thư nữa vì ẩn sâu trong lòng anh những nỗi sợ không nói thành lời.

Anh làm đơn lên chính quyền Kirfhizia xin được cấp giấy tờ, nhưng cả mấy lần đều bị từ chối. Họa vô đơn chí, sau khi sinh đứa con thứ tư, Natalia phát hiện bị ung thư và qua đời sau hơn chục năm cùng anh đồng cam, cộng khổ. Một mình anh không lương bổng, không giấy tờ, không người thân thích, nuôi bốn đưa con thơ dại trong những năm đầy biến động của nước cộng hòa Liên Xô cũ.

Trở về nguồn cội
Olia, bà nội đọc thư của ông Dinh.

Những ngày ở nhà bác tại Hà Nội, đối với cô gái gốc Việt Olia và người bạn gái đồng hành là khoảng thời gian vô cùng hạnh phúc. Suốt ngày, cô đón bạn bè thời niên ngày xưa của bố nay làm việc ở Hà Nội, rất nhiều bà con đồng hương cùng làng, bà con ruột thịt đến xem mặt cháu gái. Ai cũng dành cho cô một tình cảm thương yêu, nồng hậu. Mọi người đều bày tỏ sự cảm phục và ngưỡng mộ một cô gái mảnh mai nhưng đầy nghị lực, suốt 34 ngày ròng rã, vượt qua gần 10 ngàn km, bằng năm lần đường từ Hà Nội đến Sài Gòn, để tìm về nguồn cội.

Cô được đi thăm những danh thắng Thủ đô, được nếm những “món ăn ngon nhất thế giới” mà người bố của cô đã bao lần kể cho cô nghe, nhưng ông không nấu được. Cô được tận hưởng không khí ấm áp và màu xanh bất tận của miền nhiệt đới mà đất nước cô không hề có.

Ba ngày sau, ông Dục thuê một chiếc xe tự lái đưa cô về miền Trung, xã Thạch Bằng, Thạch Hà, Hà Tĩnh, nơi bố cô chôn rau, cắt rốn.

Olia được gặp bà nội, một người bà Việt Nam hiền hậu, suốt đời lam lũ làm lụng và yêu thương con cháu. Dường như cả làng đổ xô đến thăm và xem mặt “đứa con Tây” của anh Dinh, ai cũng muốn ôm lấy Olia, muốn bắt tay, xem nụ cười của cô, lắng nghe giọng nói của cô, mặc dù không ai hiểu cô nói gì. Câu chuyện cô tìm về quê cha giống như một câu chuyện cổ tích hấp dẫn, dẫu không có những tình tiết ly kỳ và gay cấn, nhưng làm cho mọi người vô cùng cảm động.

Mọi người trong nhà chỉ cho Olia tấm ảnh của bố cô đặt trong ngăn kéo bàn thờ và giải thích rằng, đã nhiều lần cả gia đình đã định đặt lên bàn thờ hương khói, vì ai cũng nghĩ rằng bố cô đã chết. Hồi đó có tin cho rằng, sau khi Liên Xô tan vỡ, một số người lưu vong bị giết, trong đó có anh Nguyễn Văn Dinh; lại có tin là anh Dinh bị bọn cướp bắt và bị thủ tiêu do nạn phân biệt chủng tộc. Ông Dục đã nhiều lần nhờ báo cộng đồng ở Nga đăng tin tìm người nhà, nhưng vẫn bặt âm, vô tín. Chỉ có bà nội cô, trong thẳm sâu linh cảm của người mẹ, là vẫn tin rằng ông Dinh còn sống và bà kiên quyết không cho đưa ảnh lên bàn thờ để cúng.

Olia thắp hương trước phần mộ gia đình ở Hà Tĩnh.

Olia cùng với những người thân ra nghĩa trang thắp hương cho những người quá cố, đi thăm những người cao niên trong làng, gặp những người bạn học thời phổ thông của bố. Lần đầu tiên trong đời Olia và người bạn gái của cô được nhìn thấy biển, bởi vì cả đất nước Kirghizia nằm sâu trong lục địa, bốn phía chỉ toàn là núi đá, thảo nguyên và những dòng sông chảy xiết.

Đất nước Việt Nam và con người Hà Tĩnh đã để lại cho Olia một ấn tượng rất đỗi sâu sắc, bởi vì ngay từ tấm bé, cô được nuôi dưỡng trong sự đùm bọc của gia đình, giờ đây, cô càng hiểu rằng, chỉ có miến đất này mới ban cho người bố và sau đó là Olia một tình cảm sâu nặng đến như vậy.

“Ngày vui ngắn chẳng tày gang”, cô gái gốc Việt Olia và bạn cô phải quay trở lại Kirghizia vì đã quá phép của công ty. Hôm ra đi, cả nhà tiễn Olia và người bạn ra thành phố Hà Tĩnh giữa những giọt nước mắt lưu luyến chia tay, những cái ôm thật chặt và những gói nhỏ, gói to quà cáp “cây nhà lá vườn” bà con gửi tặng.

Visa Trung Quốc cấp cho Olia và người bạn chỉ được một tháng, đã hết hạn, không xin tiếp được, họ đành phải chọn đường bộ từ Hà Tĩnh qua Viêng Chăn (Lào), đi ô tô qua Băngkok, từ đó bay về Tasken, thủ đô Uzbekistan. Từ Tasken đi ô tô về nhà chỉ có vẻn vẹn chưa đầy 350 km. Sau chuyến hành trình lịch sử, Olia trở lại Kirghizia mang theo trong lòng những kỷ niệm không thể phai mờ hình ảnh quê cha, đất tổ; về tình máu mủ, ruột rà và vẻ đẹp không nơi nào có được của nước Việt thân thương.

Vĩ thanh


Olia đã dành cho tôi gần như suốt buổi chiều để ôn lại chặng hành trình xuyên dọc đất nước Trung Hoa về quê Việt. Cô khoe với tôi những tấm ảnh chụp ở Việt Nam cùng những người thân. Giữa chừng câu chuyện, tôi hỏi Olia: “Cháu có bao giờ đặt ra giả thiết là nếu gặp khó khăn quá, cháu bỏ giữa chừng chuyến đi, hoặc về Việt Nam không tìm được xóm làng thì cháu sẽ tính sao?”. Olia trả lời ngay: “Không hề có ý nghĩ ấy chú ạ. Cháu đã quyết ra đi là không bỏ cuộc và cháu tin chắc là sẽ tìm được quê hương bố cháu!”

Olia đã có gia đình, có một cháu gái đẹp như thiên thần, chồng cô là một kỹ sư làm việc ở cơ quan viễn thông.

Người em trai của cô hiện đang làm việc phiên dịch tiếng Nga và tiếng Anh tại một công ty du lịch Vũng Tàu.

Ông Nguyễn Văn Dinh sau ngày Olia khai thông con đường về quê mẹ, ông đã được cấp giấy tờ chính thức, chấm dứt vĩnh viễn tình trạng “không quốc tịch”, có một khoản lương hưu nho nhỏ và hiện đang làm bảo vệ cho một công ty. Ông đã kịp về Việt Nam thăm mẹ trước khi bà mất. Ở Việt Nam, ông đã tìm cách liên hệ được với hầu hết bạn bè đồng môn hồi du học và có những cuộc hội ngộ đầy ân nghĩa.

Nhờ nhóm anh em người Việt đang làm ăn sinh sống tại Bisket, ông giao lưu thường xuyên và tiếng Việt trong ông đã hồi lại hoàn toàn. Ông đọc sách văn học, tin tức thời sự, thậm chí còn làm thơ tặng bạn bè ngày sinh nhật bằng tiếng Việt.

Như một nông dân chính hiệu, ông nuôi bò sữa, nuôi ngựa, nuôi cả đàn gà thả trong vườn. Hôm tôi rời Bisket, ông tiễn tôi đến tận chân đồi, và nhắc đi, nhắc lại: “Dù bận mấy, mùa hè này cũng phải trở lại với chúng tôi, mọi người sẽ dành cho anh một món tiên dược, đó là sữa ngựa non vắt trực tiếp, rất hiếm, uống đến đâu là bổ đến đó. Anh đừng quên nhé!”


Dân Việt