„Trong suốt 20 năm từ sau 1954, nhân dân
miền Nam, không có một con đường nào khác hơn là phải chiến đấu để bảo vệ quyền
được sống trong một xã hội họ đã chọn lựa…“
„Đảng Cộng sản không có công trạng hay ơn
nghĩa gì với dân tộc Việt Nam cả. Họ chỉ là những người cho vay lấy lãi nặng bằng
máu xương của bao nhiêu thế hệ Việt Nam.“
30-4
Nhìn lại chiến tranh
Trần
Trung Đạo
Thỉnh thoảng tôi đọc trong
Internet một vài lá thư có nội dung bày tỏ thái độ không đồng ý của người viết
đối với số chính sách của đảng và nhà nước, được gởi ra từ trong nước. Các tác
giả của những lá thư đó tuy khác nhau ở tên họ, địa chỉ, nhưng chung dưới một
tên gọi là "các cựu chiến binh lão thành".
Những lá thư như thế chắc
không phải được viết bằng máy vi tính hiện đại như tôi đang sử dụng mà có lẽ bằng
những cây viết có ruột cao su mềm, bơm mực bằng tay được cất giữ kỹ lưỡng từ
lâu lắm. Nhìn vào tên tuổi và chức vụ, tôi biết các cụ thuộc thế hệ Điện Biên
và không ít là người của thời mùa thu 1945 còn lại. Địa chỉ của các cụ tuy khác
nhau nhưng giống như lá thư tập thể, phần đông sống trong các khu nhà cũng có
tên chung là Khu Tập Thể.
Trong suốt bảy,
tám mươi năm của đời mình, các cụ sống, làm việc và được rèn luyện để thừa hành
chỉ thị của cấp trên chứ không quen đặt vấn đề, các cụ tập chịu đựng đau đớn chứ
không được phép rên la. Và vì thế, viết một lá thư đã là một việc khó khăn, gởi
lá thư đó đến các cấp đảng và nhà nước trung ương là một can đảm chưa từng nghĩ
đến và phổ biến lá thư rộng rãi ngoài quần chúng quả thật là một hành động phi
thường.
So với việc ôm ngọn tầm
vông vót nhọn lao vào phòng tuyến thực dân trong những ngày còn trai trẻ, hành
động viết lá thư gởi lên trung ương đảng ngày nay có thể còn nguy hiểm hơn nhiều.
Những kẻ mà các cụ lo sợ sẽ trả thù, dèm pha, nghi kỵ không phải bọn thực dân mắt
xanh, mũi lõ dễ phân biệt mà là những người cùng tổ chức, cùng đảng, cùng gọi
nhau là đồng chí và ngay cả những kẻ còn thuộc hàng con cháu các cụ.
Tôi hình dung cái đêm các
cụ tập trung nhau ở nhà một người nào đó trong nhóm để thảo lá thư, chắc phải
bí mật, hồi hộp hơn cả giờ ra trận và xúc động hơn cả đêm cuối cùng bên cạnh vợ
con trước ngày lên đường đi Lai Châu, Hà Nam, Hà Bắc không biết có ngày trở lại,
của mấy chục năm về trước.
Các cụ lo sợ là phải. Những
kẻ mà các cụ chống đối ngày nay, không những biết rõ nơi ăn chốn ở mà còn là
người quyết định các chỉ tiêu lương thực, thực phẩm, tiền hưu trí, phụ cấp nhà ở
của các cụ. Những kẻ đó không những nắm quyền sinh sát cho đoạn đời ngắn ngủi
còn lại của các cụ mà cũng có luôn cả quyền xóa bỏ quá khứ mà các cụ vô cùng
trân quý.
Tôi nghĩ đến các cụ và
thương các cụ rất nhiều. Không phải sau khi đọc những lá thư được gởi từ các
khu nhà tập thể, không phải sau khi đã ra được nước ngoài mà ngay cả từ thời mới
lớn tại miền Nam trước 1975, hình ảnh các cụ vẫn rất đẹp trong lòng tôi. Tôi chưa bao giờ nghĩ tất cả những người Việt Nam sống bên
kia sông Bến Hải là cộng sản, trái lại tin rằng ẩn khuất sau đám mây đen độc
tài đảng trị đó vẫn có những tấm gương sáng của lòng yêu nước chân thành.
Dân tộc nào trên thế giới
cũng yêu thương và gắn bó với đất nước của họ, nhưng tôi vẫn có một niềm tin chủ
quan rằng con người Việt Nam nặng lòng với quê hương đất nước nhiều hơn các giống
dân khác. Bởi vì không có một đất nước nào, ở đó, mỗi ngọn núi, mỗi dòng sông,
mỗi con đường đã được gìn giữ bằng một giá đắt như ông bà chúng ta đã phải hy
sinh trong suốt dòng lịch sử.
Những ngày còn ở trung học,
tôi thuộc lòng bài thơ “Nhà tôi” của Yên Thao và “Bên kia sông Đuống” của Hoàng
Cầm. Cả hai bài thơ được đăng trong tạp chí Bách Khoa ở Sài Gòn, trong
đó có những câu làm tôi rơi nước mắt:
Đêm buông xuống dòng sông Đuống
- Con là ai? Con ở đâu về?
Hé một cánh liếp
- Con vào đây bốn phía tường che
Lửa đèn leo lét soi tình mẹ
Khuôn mặt bừng lên như dựng giăng
Ngậm ngùi tóc trắng đang thầm kể
Những chuyện muôn đời không nói năng.
(“Bên kia sông Đuống”, Hoàng Cầm)
hay là:
Đêm nay tôi trở về lành lạnh
Sông sâu buồn lấp lánh sao lưa thưa
Ống quần nâu đã vá mụn giang hồ
Chắp tay súng tôi mơ về Nguyễn Huệ
Làng tôi đấy bên trại thù quạnh quẽ
Nằm im lìm như một nắm mồ ma
Có còn không! Em hỡi một mẹ già?
Những người thân yêu khóc buổi tôi xa.
(“Nhà tôi”, Yên Thao)
Tôi thường tự nhủ, nếu được
sinh ra cùng thời với các cụ và có đủ can đảm, con đường đẹp nhất mà tôi chọn
có lẽ cũng là con đường mà các cụ đã đi:
Người ra đi đầu không ngoảnh lại
Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy
(“Đất nước”, Nguyễn Đình Thi)
Sau 1975, nghe bài hát “Tấm
áo chiến sĩ mẹ vá năm xưa” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý viết trong thời chống
Pháp, tôi cũng vô cùng cảm động:
"Tấm áo ấy
bấy lâu nay con quý hơn cơm gạo, người mẹ nghèo trong áo rách, áo rách nên thương,
áo rách nên thương, các con ra đi đã mấy chiến trường, mang theo cả tình thương
của mẹ."
Trong hình ảnh nghèo nàn,
đau xót đó đã toát lên một vẻ đẹp thiêng liêng của tình mẹ và tình đất nước.
Trong một buổi thảo luận với
các bạn trẻ, tình cờ trùng hợp với thời gian Việt Nam đang kỷ niệm 50 năm trận
Điện Biên Phủ, một bạn đã hỏi cảm tưởng của tôi đối với những người ngã xuống
trên phòng tuyến Điện Biên Phủ trên đường tấn công vào sào huyệt của tướng De
Castries. Tôi đã trả lời người bạn trẻ rằng tôi rất có cảm tình và kính trọng
những người chết trên đường đánh vào bộ chỉ huy của tướng De Catries.
Trả lời như vậy không phải
vì tôi chưa suy nghĩ kỹ. Thật ra, từ khi biết nghĩ về đất nước, tôi đã suy nghĩ
về cái chết của những người Việt Nam đó rất nhiều.
Khi nói cảm tình với những
người chết khi tấn công vào Điện Biên Phủ không phải tôi không biết rằng trong
thời điểm đó đã có mặt một chính phủ khác, hình thành như kết quả của hiệp ước
Hạ Long 1948 và sau đó trong hiệp ước ký kết tại điện Élysée giữa Bảo Đại và Tổng
Thống Pháp Vincent Auriol năm 1949. Theo nội dung chính của cả hai hiệp ước,
Pháp công nhận "nền độc lập" của Việt Nam. Thật ra, đó chỉ là chiếc
bánh vẽ mà dân Việt Nam chẳng thể nào ăn được. Sử gia Phạm Văn Sơn ở miền Nam
đã viết trong Việt sử toàn thư: "Nhưng sau 80 năm sống dưới quyền
Pháp, nhân dân Việt Nam đã hiểu rõ người Pháp quá nhiều, lại nhìn vào Bảo Đại
và thành phần chính của chính phủ Bảo Đại, nhân dân cũng hết tin tưởng, vì vậy
mà cây bài quốc gia tức cây bài Bảo Đại không có hiệu quả."
Là một sĩ quan cấp đại tá,
phụ trách phòng quân sử thuộc Bộ Tổng tham mưu quân đội Việt Nam Cộng Hòa, lẽ
ra ông phải viết khác đi cho thích hợp với bối cảnh chính trị Việt Nam sau hiệp
định Geneva, nhưng không, sử gia Phạm Văn Sơn đã có một cái nhìn sáng suốt. Ông
viết từ trái tim yêu nước và viết cho hàng trăm năm sau chứ không phải để thoả
mãn các nhu cầu chính trị nhất thời.
Đại tá Phạm Văn Sơn, người
đã chết trong trại tù Vĩnh Phú năm 1980, đã ví các nỗ lực của thực dân nhằm
tiêu diệt lòng yêu nước bền bỉ của nhân dân Việt Nam chẳng khác gì là việc "cầm
dao chém nước", chẳng thể nào chẻ được lòng yêu nước của người Việt Nam.
Khi nói cảm tình với những
người lính chết trên đường tấn công vào Điện Biên Phủ không có nghĩa tôi không
biết rằng ông Hồ Chí Minh là một cán bộ của Đệ tam Quốc tế Cộng sản và những
người lãnh đạo phong trào Việt Minh phần lớn là đảng viên cao cấp của Đảng Cộng
sản Đông Dương.
Lenin đã khẳng định cuộc cách
mạng chống thực dân là một bộ phận của cách mạng xã hội chủ nghĩa trên phạm vi
toàn thế giới và cũng chính Lenin cho rằng các nước thuộc địa lạc hậu có khả
năng nhảy vọt lên chủ nghĩa xã hội mà không cần thông qua giai đoạn phát triển
của chủ nghĩa tư bản. Ngay từ ngày thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương, tư tưởng
đó luôn luôn là tư tưởng chỉ đạo cho cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa tại Việt
Nam.
Tôi kính trọng và quý mến
những người đã ngã xuống, đơn giản bởi vì họ là những người yêu nước.
Tình yêu họ dành cho nơi
chôn nhau cắt rốn là một tình yêu thuần khiết và vô cùng trong sáng. Lòng yêu
nước của họ không nhập từ đâu cả nhưng được hun đúc bằng xương máu từ nhiều
ngàn năm lịch sử, lớn lên trong lời dạy bảo của cha và lời ru của mẹ.
Trong cuộc phỏng vấn ngày
26 tháng 2 năm 2005 của đài BBC, nhà thơ Hoàng Cầm cũng đã xác nhận: "Lúc ấy tôi còn trẻ (đỗ tú tài năm 1940), tham gia cách mạng
là vì tinh thần yêu nước chứ cũng không biết gì về các chủ nghĩa. Tôi viết các
vở kịch mang chất lịch sử, xuất phát từ lòng yêu nước."
Một người như nhà thơ
Hoàng Cầm, có bằng tú tài, một trình độ giáo dục được xem là cấp cao của thời bấy
giờ, vẫn không biết gì về chủ nghĩa Mác-Lê thì hàng ngàn, hàng vạn, hàng triệu
tâm hồn nông dân chơn chất Việt Nam khác làm sao hiểu được thế nào là duy vật lịch
sử, duy vật biện chứng, giá trị thặng dư, thời kỳ quá độ và họ chắc cũng chẳng
quan tâm đến các ông Các Mác râu xồm hay ông Lê-nin trán hói là ai.
Tôi tin tuyệt đại đa số những người đã chết trong cuộc chiến chống thực dân
là những người hy sinh cho độc lập, tự do đúng nghĩa. Họ ngã xuống cho thanh
bình sớm được vãn hồi trên quê hương khổ đau và bất hạnh Việt Nam. Họ
ngã xuống trong nụ cười, bởi vì ngay cả khi nhắm mắt lìa đời họ vẫn tin rằng họ
đang chết cho tổ quốc, đang chết cho tương lai dân tộc như tổ tiên họ đã chết
trên sông Bạch Đằng, trên bến Chương Dương, trong đầm Dạ Trạch, giữa núi rừng
Yên Thế. Họ chết đi trong giấc mơ tuyệt đẹp về một đất nước tương lai, một đất
nước của Hùng Vương thương yêu và giàu mạnh. Tuyệt đại đa số, nếu không muốn
nói rằng tất cả, đều tin như thế.
Tôi không tin một người Việt
Nam nào có thể lấy thân mạng mình lấp vào ổ súng thực dân hay lấy thân mình làm
đòn kê để khẩu pháo khỏi rơi xuống hố sâu chỉ để mong một ngày đất nước Việt
Nam sẽ biến thành một thiên đường, ở đó con người làm theo năng lực hưởng theo
nhu cầu, muốn gì có nấy như đã khẳng định trong kinh điển Mác-Lê.
Không! Những nông dân Việt
Nam yêu nước từ bỏ ruộng vườn ra đi theo tiếng gọi của non sông như một thời
vang vọng từ Chí Linh, Lam Sơn, Bạch Đằng, từ bốn ngàn năm lịch sử. Họ đã từng
ôm lấy nhau mà hát "Vì nước, ruộng nương anh để vợ anh cày, gian nhà
tranh mặc kệ gió lung lay... Áo anh rách vai, quần tôi có hai miếng vá, miệng
còn cười buốt giá chân không giày, thương nhau, ta nắm lấy bàn tay".
Không ai gần gũi với đất
nước hơn là nông dân và cũng không ai yêu đất nước hơn người nông dân. Cả đời họ
gắn liền với bờ ao, ruộng lúa. Họ đánh Tây chỉ vì một lý do đơn giản, để được sống
thanh bình, tự do trong căn nhà tranh, bên bờ ao thửa ruộng của họ. Ý nghĩa của
quê hương trong lòng người nông dân trong sáng như thế đó.
Và cho dù những người nông
dân áo vải thô đó có tham gia vào đảng cộng sản đi nữa, việc tham gia của họ
cũng chủ yếu là để được tổ chức hóa nhằm mục đích hợp đồng chiến đấu, đạt đến
chiến thắng dễ dàng hơn mà thôi. Nếu họ sinh ra ở Quảng Nam họ sẽ gia nhập Việt
Nam Quốc dân Đảng, sinh ra ở Quảng Trị họ sẽ gia nhập Đại Việt, sinh ra ở Cần
Thơ, Vĩnh Long họ sẽ gia nhập Dân xã Đảng. Đó là trọng điểm của các đảng phái
chống Pháp trong những thập niên đầu của thế kỷ 20.
Trong ý thức đơn sơ của
người dân Việt, các tổ chức chống thực dân là những chiếc phao họ bám để sang bờ
độc lập. Người dân hiền lành ngày đó làm sao biết được con đường họ đi không dẫn
đến độc lập, tự do, hạnh phúc mà dẫn đến nghèo nàn, lạc hậu, độc tài và làm sao
biết được chiếc phao họ bám cũng là chiếc bẫy buộc chặt cuộc đời họ cho đến
ngày nay.
Tôi sinh ra và lớn lên ở
miền Nam nhưng tôi nhìn lịch sử từ hướng con tim và bằng lý trí chứ không nhìn
từ điện Kremlin, White House, khu Trung Nam Hải Bắc Kinh hay bằng những kiến thức
và lý luận một chiều. Tôi học để hiểu rằng cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp
là cuộc chiến tranh chính nghĩa. Đó là cuộc chiến giữa dân tộc Việt Nam bị trị
chống lại thực dân Pháp bóc lột và nô lệ đất nước chúng ta. Cuộc chiến đó bắt đầu
khi tiếng đại bác của tướng thực dân Rigault de Genouilly bắn vào Đà Nẵng năm
1859 chính thức phát động cuộc chiến tranh xâm lược cho đến khi chúng rút ra khỏi
Việt Nam vào năm 1954.
Trong gần một trăm năm đó,
máu của hàng triệu người Việt Nam đã đổ xuống khắp ba miền, từ ruộng lúa Tiền
Giang đến châu thổ sông Hồng, từ Côn Đảo đến Réunion, từ dải Trường Sơn trùng
điệp đến núi rừng âm u Việt Bắc. Bên tai tôi như vẫn còn nghe tiếng hô "Việt
Nam vạn tuế" của Nguyễn Thái Học, lời dặn dò của Phan Chu Trinh, tiếng gào
thống thiết của Nguyễn An Ninh, lá thư viết bằng máu của Phan Bội Châu, giọng
thơ hùng tráng của Lý Đông A, tiếng sóng Châu Giang vỗ vào thân xác của Phạm Hồng
Thái.
Người yêu nước bằng
tình yêu trong sáng, không đánh thuê, đánh mướn cho một chủ nghĩa, một ý thức hệ
ngoại lai vong bản hay cho một quyền lợi đế quốc nào sẽ không bao giờ chết,
không bao giờ bị lãng quên.
Khoảng cách giữa
thương nước và hại nước không phải là một chiếc cầu dài mà trái lại rất ngắn và
mỏng như sợi tóc. Chiếc cầu nhận thức đó ngắn đến nỗi nếu chỉ bước thêm một bước
nữa, một người yêu nước sẽ tức khắc trở thành kẻ bán nước.
Đó là thực chất của cuộc chiến
gọi là "Chống Mỹ cứu nước" sau 1954 đến 30 tháng 4 năm 1975.
Nhiều người nhìn cuộc chiến
Việt Nam như nhìn vào màu nước biển. Tùy theo thời gian và chỗ đứng của mỗi người,
nước biển có một màu sắc khác nhau. Nhưng màu thật sự của giọt nuớc không thay
đổi dù sáng, trưa, chiều, tối, trong bờ hay ngoài khơi. Tương tự, cuộc chiến Việt
Nam đã được gọi bằng nhiều tên gọi: nội chiến, chống đế quốc, ủy nhiệm, đánh
thuê v.v…, nhưng bản chất của cuộc chiến vẫn chỉ là một mà thôi. Như vậy, bản chất của cuộc chiến từ 1954 đến 1975 là gì?
Trong các định nghĩa về
chiến tranh, tôi vẫn đồng ý với định nghĩa của Karl von Clausewitz nhất,
"chiến
tranh là sự tiếp tục của chính trị bằng những phương tiện khác"
(War is the continuation of politics by other means). Và từ định nghĩa đó, nhìn
lại cuộc chiến Việt Nam, thay vì đi tìm nhãn hiệu quốc gia nào trên từng vỏ đạn,
trên mỗi chiến xa hay thử nghiệm DNA, màu da, chủng tộc của từng xác chết, có lẽ
chúng ta phải tìm hiểu nguyên nhân và mục đích của cuộc chiến đã xảy ra trên đất
nước mình, không phải trong thời chiến mà ngay cả trước và sau cuộc chiến.
Nói về mục đích chiến tranh,
khoảng năm 1970, tôi có đọc một cuốn sách của giáo sư Nguyễn Văn Trung.
Tôi không nhớ chính xác tên của tác phẩm nhưng nhớ rất rõ giáo sư đã dành
nguyên trang đầu để viết mỗi một câu: "Nói cho cùng, cuộc chiến Việt Nam vẫn là cuộc chiến tranh ý
thức hệ". Câu nói đó kích thích sự tìm hiểu của tôi rất nhiều về
bản chất và mục đích của cuộc chiến Việt Nam mà các bên tham dự đang nhắm đến.
Ở miền Nam, chúng tôi lớn
lên với nhiều câu hỏi và rất ít câu trả lời, trong khi đó, thế hệ trẻ miền Bắc
lớn lên có tất cả câu trả lời chờ sẳn mà không cần đợi hỏi. Nếu ai hỏi một trăm
em, hay thậm chí một ngàn em học sinh Việt Nam tốt nghiệp phổ thông về lý do của cuộc chiến tranh được mệnh danh là "giải
phóng miền Nam", tôi tin người hỏi sẽ nhận về những câu trả lời
giống hệt nhau, đó là "chống giặc Mỹ xâm lược để thống nhất đất nước".
Giặc Mỹ xâm lược?
Phải chăng vì
"giặc Mỹ xâm lược" Nam Hàn, Nhật Bản, Đài Loan, Tây Đức nên ngày nay
các quốc gia này mới trở nên những nước giàu có nhất nhì trên thế giới.
Thống nhất đất nước?
Vâng, không một người Việt
Nam nào muốn cắt đi phần da thịt của mình hay muốn đất nước mình phải chia đôi,
chia ba, nhưng nếu để đổi sự thống nhất bằng sinh mạng
nhiều triệu người dân vô tội, nhiều trăm ngàn người Việt Nam vẫn còn đang mất
tích, hàng vạn cô gái Trường Sơn đã đánh mất tuổi xuân trong rừng sâu núi thẳm,
một nền kinh tế đi sau nhân loại hàng thế kỷ, phải chăng là một giá nên đổi?
Độc ác như Kim Nhật Thành
nhưng sau cuộc thử lửa 1950 đã không còn nuôi giấc mộng xâm chiếm Nam Hàn lần nữa.
Bạo chúa cỡ Erich Honecker cũng chưa bao giờ dám nghĩ chuyện phiêu lưu thống nhất
nước Đức bằng con đường võ lực.
Trước 1975, tôi nghe rất
nhiều về quốc gia, cộng sản nhưng ai cũng bận đánh nhau, chẳng bao nhiêu người
dành thời gian nghiên cứu kỹ càng và phổ biến rộng rãi về thế nào là quốc gia
và thế nào là cộng sản. Một số không ít các nhà lãnh đạo miền Nam từng là sĩ
quan trong quân đội Pháp hay đã phục vụ trong chính quyền thuộc địa Pháp nên
cũng không thích nghe quá nhiều những mẩu chuyện khơi dậy lòng yêu nước chống
thực dân và họ cũng không đặt nặng việc xây dựng một hệ ý thức quốc gia dân tộc
nào hoàn chỉnh. Một số người được gọi là trí thức trong xã hội miền Nam thì xem
việc chống chính phủ, chống Mỹ là một thời trang, mặc dù nhiều trong số họ ăn
lương Mỹ.
Xã hội miền Nam
trước 1975 hẳn nhiên không phải là một xã hội lý tưởng. Miền Nam có tham nhũng, có cậy quyền, có lũng đoạn,
có độc tài, có tham ô, có lãng phí, nói chung có đủ các biến chứng tiêu cực của
một đất nước vừa thoát ra khỏi ách phong kiến và thực dân. Nhưng đồng thời miền Nam cũng có các điều kiện và nhân tố cần
thiết để xây dựng một xã hội dân chủ pháp trị. Giống như việc trồng cây
ăn trái, những hạt mầm dân chủ cũng phải được gieo, phân bón, tưới nước, chịu đựng
nắng mưa, gió bão, truớc khi đâm chồi, nẩy lộc, đơm hoa và kết trái.
Mặc dù đang chập
chững trên hành trình dân chủ hóa như thế, không có nghĩa là hàng triệu người
lính miền Nam chiến đấu không lý tưởng. Một người lính nghĩa quân gác chiếc cầu ở đầu làng để mấy anh du kích khỏi
về giựt sập cũng là một biểu hiện hùng hồn của lý tưởng tự do và chủ quyền. Chiếc
cầu là huyết mạch kinh tế của làng, là trục giao thông chính của làng, là vẻ đẹp
của làng, và bảo vệ chiếc cầu là nhiệm vụ sống còn mà người lính nghĩa quân phải
làm cho bằng được. Lý tưởng tự do của một dân tộc dù thiêng liêng vĩ đại bao
nhiêu cũng bắt nguồn từ những hình ảnh nhỏ nhoi nhưng đầy ý nghĩa đó.
Trong suốt 20
năm từ sau 1954, nhân dân miền Nam, không có một con đường nào khác hơn là phải
chiến đấu để bảo vệ quyền được sống trong một xã hội họ đã chọn lựa.
Phát xuất từ chính sách
chia để trị của thực dân và hoàn cảnh trưởng thành, không ít nhà lãnh đạo miền
Nam đã bắt đầu cuộc đời chính trị hay binh nghiệp trong hàng ngũ Pháp, nhưng giống
như hàng triệu người dân miền Nam khác, họ đã chung lưng nhau chiến đấu để bảo
vệ quyền được nói những điều họ nghĩ, quyền được sống nơi họ muốn sống, quyền
đi nhà thờ, đi chùa họ chọn, quyền được hát bài hát họ thích.
Dù quá khứ khác
nhau nhưng họ đều ngã xuống như những người yêu nước. Đừng quên, những người bị gọi là "Ngụy",
là "theo Tây", "theo Mỹ" kia không chỉ phải bảo
vệ miền Nam mà còn phải chiến đấu trong điều kiện vô cùng khó khăn để giữ từng
cù lao, từng khoảng không gian của vùng trời, từng hải lý của vùng biển Việt
Nam. Hạt cát Hoàng Sa vẫn còn đỏ màu máu của họ.
Thế nhưng, số phận các quốc
gia nhược tiểu thì ở đâu và thời nào cũng vậy, nếu tương hợp với quyền lợi của
đế quốc thì sống và ngược lại thì chết. Bởi vì mục đích
của Đảng Cộng sản Việt Nam rất tương hợp với quyền lợi của Liên-Xô và Trung Quốc
nên "vinh quang này thuộc về Đảng Lao động Việt Nam" như Lê Duẩn
nói, trong lúc nhiều cấp lãnh đạo miền Nam phải tự sát hay sắp hàng đi vào tù bởi
vì quyền lợi của nhân dân miền Nam (chiến đấu để bảo vệ và xây dựng các nền
móng tự do dân chủ riêng ở miền Nam) không còn tương hợp với sách lược thế giới
của tổng thống Richard Nixon.
Thật ra, không phải đợi đến
khi tổng thống Nixon thay đổi đường lối chiến tranh mới dẫn đến sự sụp đổ của
miền Nam, chính sách của Mỹ tại Việt Nam đã thất bại ngay từ trong trứng. Đánh
nhau với ba nước tiên phong và hùng hổ nhất trong khối cộng sản quốc tế (Việt
Nam, Trung Quốc, Liên Xô) mà chỉ nhằm bảo vệ miền Nam Việt Nam thì sự thất bại
là vấn đề thời gian mà thôi. Danh tướng Đức Erwin Rommel chẳng từng viết "Phòng
thủ là tự sát" đó sao. Trong chiến tranh Đại Hàn, nếu quân đội đồng minh
không đổ bộ Ichon, giải phóng Seoul, vượt vĩ tuyến 38, chiếm cả thủ đô Bình Nhưỡng
của Bắc Hàn, mà chỉ lo phòng thủ miền Nam thì số phận Nam Hàn chưa biết sẽ ra
sao.
Sau 1975, chính
bí thư thứ nhất Lê Duẩn đã xác định cuộc chiến từ sau 1954 đến 1975
là chiến tranh ý thức hệ giữa cộng sản và tự do.
Trong diễn văn chào mừng
chiến thắng vào đầu tháng 5 năm 1975, Lê Duẩn không còn che giấu tham vọng
nhuộm đỏ cả nước Việt Nam khi tuyên bố: "Vinh quang này thuộc về Đảng Lao động Việt Nam
quang vinh, người lãnh đạo của giai cấp công nhân, giai cấp tiền phong trong sự
nghiệp giải phóng dân tộc và đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc
lên chủ nghĩa xã hội". Câu nói "tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc..." đã trở thành một trong
những câu khẩu hiệu phổ biến nhất trong thời kỳ đó.
Câu khẩu hiệu dài lòng
thòng này đã làm tốn nhiều vải và mực nhất trong những năm mà người dân không
có áo mặc sau 1975. Ngoài ra, trong tác phẩm được xem như là kinh điển, Dưới
lá cờ vẻ vang của Đảng, Lê Duẩn cũng nhiều lần khẳng định mục đích cuối
cùng của cách mạng tại Việt Nam là đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội hiện
đại (công nghiệp, nông nghiệp và khoa học kỹ thuật), tạo điều kiện vững chắc
cho chủ nghĩa cộng sản khoa học trong tương lai.
Nói chung, Đảng Cộng sản
Việt Nam từ khi thành lập vào năm 1930 cho đến nay, tuy khác nhau về chiến lược
của mỗi thời kỳ và hoạt động dưới nhiều tên gọi (Đảng Cộng sản Đông Dương, Hội
nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông Dương, Đảng Lao động Việt Nam, Đảng Nhân dân
Cách mạng ở miền Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam) nhưng hoàn toàn nhất quán về tư
tưởng và mục đích chính trị.
Người đọc sẽ thắc mắc, thế
thì công sức của Đảng Cộng sản trong cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp đầy
gian khổ nhưng cũng rất vinh quang đó là gì?
Xin thưa, từ nhỏ tôi được
dạy rằng khi giúp đỡ ai thì đừng cầu ơn phước, vì giúp người chỉ để mưu cầu lợi
lộc riêng tư thì không phải giúp người mà chỉ là một hành động đầu tư trên sự
khổ đau của kẻ khác mà thôi.
Từ khi thành lập
Đảng Cộng sản Đông Dương cho đến 1954, giới lãnh đạo cộng sản đã chiến đấu
trong hàng ngũ người Việt yêu nước, vâng, nhưng mục đích cuối cùng của họ không phải
là độc lập dân tộc hay thống nhất đất nước. Bốn mươi năm, kể từ 1975, một
khoảng thời gian đủ dài và một vết chém đủ đau để nhân dân Việt Nam ý thức ra rằng
thống nhất đất nước chỉ là điều kiện tiền đề cho mục đích cộng sản hóa toàn cõi
Việt Nam.
Hành động đốt sách vở một
cách không phân biệt, xóa bỏ mọi tàn tích văn hóa cũ, đổi tiền năm bảy lượt, bỏ
tù hàng trăm ngàn người, đày đi kinh tế mới hàng triệu đồng bào là những bằng
chứng hiển nhiên đến mức không ai còn có thể chối cãi được. Nếu chỉ đánh Mỹ để giành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước, tại sao họ đã thi hành các biện pháp đầy đọa, trừng phạt, tẩy
não vô cùng thất nhân tâm như đã làm sau 1975 đối với chính đồng bào máu mủ của
mình.
Trong quan điểm đó, Đảng Cộng sản không có công trạng hay ơn nghĩa gì với dân tộc
Việt Nam cả. Họ chỉ là những người cho vay lấy lãi nặng bằng máu xương của bao
nhiêu thế hệ Việt Nam.
Hãy so sánh cách sống của
những ủy viên Bộ Chính trị, ủy viên trung ương đảng và cuộc đời của những người
được gọi là "chủ nhân đất nước" đang lây lất dưới gầm cầu Long Biên để
thấy cái mức lãi mà dân tộc ta phải trả cho Đảng Cộng sản Việt Nam cao đến bao
nhiêu.
Bất cứ người Việt
Nam có một chút kiến thức kinh tế, chính trị và nhìn lịch sử một cách khách
quan phải công nhận rằng, nếu không có ý thức hệ cộng sản, Việt Nam không những
vẫn là một dân tộc thống nhất mà còn có đời sống tự do, dân chủ, nhân bản và
giàu mạnh gấp trăm lần hơn hôm nay.
Trần
Trung Đạo