„Đối với một số người Mỹ gốc Á, áp lực “khuôn mẫu thiểu số” này
đang trở thành một gánh nặng cho họ.“
Người Mỹ gốc Á và THIỂU SỐ GƯƠNG MẪU
Dr. Mustafa Emirbayer , & Dr. Mattew Desmond
Đinh
Hoa Lư dịch
LỜI MỞ ĐẦU
Trước khi vào bài viết của hai tác giả: Dr. Mustafa
Emirbayer , & Dr. Mattew Desmond, chúng ta nên định nghĩa thế nào là THIỂU
SỐ GƯƠNG MẪU ( model minority stereotype)?
Thiểu số Gương Mẫu có liên hệ về dân tộc thiểu số tại
Hoa kỳ. Nhóm từ này để chỉ về định kiến đối với những
dân tộc ít người khi định cư tại Hoa kỳ do họ luôn có ý huớng vươn lên và nổi bật
mọi mặt từ kinh tế, giáo dục, cùng những thành tích gương mẫu do ít gây tội phạm
cũng như ổn định đời sống gia đình.
Tại Hoa kỳ những nhóm dân thiểu số gồm phần lớn Á
châu: Trung hoa, Việt Nam, Phi Luật Tân, Ân, Nam Hàn..
Đinh Hoa Lư
Thiểu
số gương mẫu ( Model Minority Stereotype )
Khó mà phủ nhận
rằng đa số người Mỹ gốc Á hiện nay đã thành tựu khá lớn trong lĩnh vực giáo dục
hiện tại dù họ chỉ chiếm tới 3 % dân số.
Học sinh gốc Á
hiện tại có tới 5 % trên tổng số sinh viên đại học. Người Mỹ gốc Trung Hoa, Ấn
Độ, và Đại Hàn đi vào đại học gấp hai lần so với người da trắng . Vào năm 2003 có 30% học sinh da trắng tốt nghiệp cử nhân hay
cao hơn, trong khi đó sinh viên gốc Á tốt nghiệp tới 50%. Dẫu rằng không
phải gốc dân Á Châu đều tối ưu tai học đường Mỹ, nhưng các bậc cha mẹ của tằng
lớp di dân hay tỵ nạn gốc Á này đều đa phần đều có truyền thống giáo huấn
nghiêm nhặt việc học hành con cái cũng như bài vở tại nhà. Nhưng lối giáo huấn
này chưa phải là nguyên nhân độc nhất cho sự thành công cho con cái của các
nhóm dân Mỹ gốc Á này.
Qua nhiều nghiên
cứu, chúng ta thấy rằng cha mẹ của dân da đen thuờng có kỳ vọng cao hơn ở con
cái đối với người da trắng thế mà tỷ số học sinh da trắng lại tốt nghiệp cao
hơn. Có nhiều thứ cho chúng ta tìm hiểu nguyên nhân vì sao? Có một “áp lực ” nào đó lên người Mỹ gốc Á đi đến thành công
chăng? không phải phần lớn nhờ vào truyền thống cha mẹ mà có một nguyên
nhân mạnh mẻ hơn: đó là Xã Hội Hoa Kỳ.
Người Mỹ trắng tại
Hoa kỳ đã nhìn ra “gương mẫu gốc thiểu số” này từ thế kỷ mười chín. Sau Nội Chiến
Hoa kỳ chính tờ báo Baton Rouge đã có lần so di dân Trung Hoa với người da đen.
Họ cho rằng di dân Trung Hoa “biết vâng lời
và tháo vát hơn người da đen, làm việc cần mẫn không cần giám sát cùng lúc có
có thói quen tươm tất sạch sẽ “. Cùng thời này tờ Thời Báo Nữu Ước (New York
Times) lại nhạo báng di dân Ái Nhĩ Lan như câu “John Chinaman”(ông Tàu) đáng được
nhập vào xã hội Mỹ hơn ông “Paddy”(Ái nhĩ Lan).
Hình ảnh về “gương
mẫu thiểu số” này chúng ta lại thấy sống lại vào thời có phong trào tranh đấu
dân quyền năm 1966 khi William Peterson cho đăng vào tờ Nữu Ước Thời Báo Chủ Nhật
về ” Mẫu Chuyện Thành Công từ khuôn Mẫu của
người Mỹ gốc Nhật ” “một chuẩn mực của công dân mà chúng ta nên chọn lấy”.
Ông viết, “Người Mỹ gốc Nhật tốt nhất
trong các nhóm dân trong xã hội chúng ta, kể cả người da trắng sinh ra tại đây.”
Peterson đã liên hệ đến người Mỹ gốc Phi Châu và người Mỹ gốc Latin để chúng dẫn
sự tương phản như là ” những nhóm thiểu số tệ hại ” Đề tài này của Peterson được
người ta đọc nhiều. Dĩ nhiên, từ đó người Mỹ gốc Á đã thể hiện trên truyền
thông đại chúng như là mẫu mực thành công của các dân tộc không phải là da trắng.
Các tờ báo như Time, Newsweek, và Sixty Minutes đã “phong tước” cho người
dân gốc Á là “Thiểu Số Gương Mẫu”. Tạp chí Fortune từng gọi họ là “Thiểu Số Siêu Hạng” và ngay cả tờ The New Republic cùng công nhận họ là “Thắng lợi của người Á Châu” là “câu chuyện thành công lớn nhất của nước Mỹ.”
Các nhà báo từng nhiệt tình khen ngợi người Mỹ gốc Á đang “chiếm hết giải thuởng về khoa học “, nổi bật hơn những sắc dân khác
từ học đường và cả sở làm và ngay cả “vượt
trội hơn người Mỹ trắng.”
Có
cách nhận xét về người Mỹ gốc Á trong phạm trù của định kiến về “thiểu số gương
mẫu” bằng cách suy nghĩ về họ. Trước
tiên, và là điều trước nhất, ngay tại học đường họ lên như diều do trúng vào những
bộ môn đúng vào “mặt mạnh” của họ. Những môn có tính kỹ thuật, vật lý, toán, kể
cả khoa học vi tính, tất cả đều hợp với những thứ họ được uốn nắn từ tuổi nhỏ
theo thói quen trầm lặng, lễ độ. Đó là điều nói ra một cách thẳng thừng; nhưng
đó lại là lối giải thích tích cực.
Nhưng nếu chúng ta suy nghĩ và lắng nghe lại cho kỹ,
thì chả có gì để một định kiến được gọi là “tích cực”. Định kiến chỉ là hệ quả
do những gì chúng ta đơn giản hóa quá mức trong lối suy nghĩ, nó sẽ gây nên hậu
quả nguy hiểm cho những người đang là mục tiêu. Đối với
người Mỹ gốc Á, thành công là những điều lo toan- không chỉ đối với thành công
thôi, ngay cả đạt đến mức độ thiên tài đều mang thiệt thòi tới cho họ.
Khi họ thành công–lấy thí dụ, giải khoa học mà mọi
người đang thèm muốn, hay ngay cả thắng giải trong cuộc thi đánh vần–thì những
người Mỹ không phải gốc Á lại cho rằng: “À,
dĩ nhiên là họ thắng thôi. Họ là người Á Châu mà .” Nhưng khi họ thua thì
những người này lại có lối suy nghĩ: ” Tại
sao lại không thắng? họ là người Á Châu mà?” Trong cả hai trường hợp, phẩm
chất chủng tộc với người Mỹ gốc Á đang chiếm ưu thế hơn cá nhân họ, đã che lấp
hết sự thông minh cùng nổ lực của riêng họ.
Còn gì nữa? mỗi loại xét đoán định kiến với cái từ
“tích cực” đều có cái điểm đối với nó. Thí dụ chúng ta nói, “Người da đen đều là những lực sĩ mạnh bạo,
” nó có nghĩa rằng “Người da đen không
thông minh lắm. ” Khi chúng ta cho “Người Do thái quá giỏi trong hoạch định
về tiền bạc ” câu này cũng có nghĩa là “Người
Do thái keo kiệt cùng tham lam. ” Tương tự như thế, tất cả ngợi khen, vinh danh sự đóng góp của người Mỹ gốc Á chắc rằng đều
có gắn thêm cái hậu ý đả phá (degrading) đi cùng. Trong tác phẩm của
Frank Wu, cuốn Da Vàng (Yellow) có viết “Thông minh có nghĩa là biết cách tính
toán thật khéo léo. Được giải về toán cùng khoa học chỉ là cái giỏi máy móc
không có tính sáng tạo, thiếu năng khiếu giữa cá nhân và cá nhân và tài lãnh đạo.
Có lễ độ, có nghĩa là chỉ biết nín lặng cùng khúm núm. Siêng năng tức phải là một
kẻ cạnh tranh không công bằng trong những con người bình thuờng và không phải
là một người đa năng cùng dễ mến.
Đối với một số người Mỹ gốc Á, áp lực
“khuôn mẫu thiểu số” này đang trở thành một gánh nặng cho họ.
Đàn bà trẻ gốc Á, thuờng đối mặt với áp lực từ cha mẹ cùng xã hội, phải trở
thành những học sinh giỏi những phụ nữ, bạn gái cùng những người vợ vẹn toàn. Do đó có nhiều con
số tự vẫn cao lên mức báo động. Đàn bà gốc Á hiện nay tại trung học
và đại học đều có con số tự vẫn cao nhất trong các sắc dân. Thật vậy, tự vẫn đã
trở thành nguyên nhân đứng thứ hai trong số các các chết của đàn bà gốc Á từ lớp
tuổi từ 15 đến 24. Có trường hợp, sau chiếc dương cầm độc tấu bóng lộn cùng những
bảng ghi toàn diện kia một người đàn bà ngồi yên buồn bả bất động chẳng khác gì
” cái xác đã chôn trên mặt đất”.
Bên cạnh trút tức bực lên tâm trí nhiều người Mỹ gốc
Á, định kiến về gương mẫu thiểu số còn làm trầm trọng
thêm hố ngăn cách chủng tộc. Sự e ngại về chuyện quá thành đạt của người
Á châu thuờng tạo điều kiện dễ dàng cho cảm giác bất ổn tại các trường đại học
giữa những học sinh không gốc Á, da trắng và không da trắng . Các sinh viên của
đại học công nghệ MIT lại lấy các chữ đầu MIT mà giễu cợt rằng những chữ này là
“Made In Taiwan” thay vì Massachusetts Institute of Technology. Sinh viên đại học
UC Los Angeles thì lại diễu UCLA là “United Caucasians Lost among Asians” (đám
Da Trắng Lạc Lỏng Giữa Dân Á Châu) Sinh viên của UC Berkeley thì được chào đón
bằng từ ngữ ” Hãy dừng lại lũ Á châu Kia ” những chữ này viết bằng sơn ngay tại
vách khu đại học kỹ sư, cùng lúc có một số cựu sinh trường này cho biết, ” có một
số sinh viên nói rằng nếu họ thấy có đông sinh viên Á châu trong lớp họ sẽ rút
lui vì tầm thi đua sẽ quá cao. ” Một tờ báo cũng ghi chú lời một sinh viên đại
học Yale không phải gốc Á khuyên rằng : “nếu bạn kém về môn toán hay khoa học
nhưng nếu bạn bị ghi danh vào lớp có đông sinh viên gốc Á , việc duy nhất phải
làm cho bạn hãy chuyển qua thời khóa khác ngay ” Vì rằng họ nhìn những người gốc
Á đơn thuần qua khia cạnh chủng tộc–một chủng tộc sáng giá về học lực. Một số
sinh viên không phải gốc Á lại đối đãi với họ như là một mối đe dọa cho họ về
thành công học vấn cũng như chuyện thịnh vượng tương lai.
Thật khó xử, vì rằng định kiến về thiểu số gương mẫu
lại từng được sắp xếp và tính toán cẩn thận trong cách áp bức cũng như hạ nhục
những nhóm dân “không phải da trắng” . Định kiến cùng theo sau sự ngụy biện.
Khi xã hội Mỹ nhìn vào người Mỹ gốc Á và thốt lên ” Các bạn đã làm được” cùng sau đó đối với các nhóm dân không phải là
da trắng khác họ lại rầy la ” Giờ, tại
sao các anh lại không thể?”
Người Mỹ gốc Á được đối xử như “thiểu số trung lưu”
chúng ta hãy mượn lời nhà xã hội học Hubert Blalock, khi những tác phẩm của tác
giả này là bằng chứng về sự trị vì của thống trị chủng tộc (racial domination) ở
bên chúng ta, trong đó những nhóm dân “không da trắng” còn mòn mỏi nghèo khó
hay bị giam hãm trong bất công chỉ còn biết tự trách mình.
Cây viết Michael Lind quan sát thấy rằng: “người bán hàng Việt Nam, người Phi làm tại
phòng thí nghiệm hay có thêm vào những công việc đáp ứng tức thời như bán chả
giò, đo lượng đường máu… bằng cách phục vụ thêm một việc người da trắng cho là
họ sẽ bớt đi tội lỗi qua tình trạng ăn ở dơ bẩn của hàng triệu người da đỏ, những
khu ổ chuột người da đen, những vùng nghèo khó của người Mễ và còn những người
da trắng nghèo nữa.”
Mustafa Emirbayer: Ph. D
1989 , Harvard University
Mattew Desmond: Ph.D Wisconsin
University
Desmond, Matthew &
Emirbayer, Mustafa. (2010). Racial domination, racial progress, 327-331.
Đinh hoa Lư- edition and
translation